CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÈ KINH TÉ HỌC MỤC TIÊU 1. Hiểu rõ khái niệm về kinh tế học và các vấn đề liên quan như nguồn lực, nhu cầu, sự khan hiếm và sự lira chọn. Hiểu rõ nền tảng của sự lựa chọn thông qua các khái niệm và phân tích về chi phí cơ hội và đường giới hạn khả năng sản xuất. Phân biệt sự khác nhau giữa kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô; kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc.
Hiểu rõ các khái niệm về thị trường và nền tảng phân loại các thị trường theo quan điểm môn học. Giải thích các mô hình kinh tế căn cứ từ ba vấn đề kinh tế cơ bản 1. KINH TẾ HỌC VÀ CÁC KHÁI NIỆM cơ BẢN 1. Kinh tế học là gì? Trong cuộc sống chúng ta luôn luôn đối mặt với rất nhiều sự lựa chọn, chẳng hạn khi thức dậy, chúng ta phải tự trả lời những câu hỏi của riêng mình như mình sẽ mặc gì? Mình sẽ ăn gì vào buổi sáng? Mình sẽ tự chạy xe đi học hay đi học bằng xe buýt? Mình sẽ ăn gì vào buổi trưa? Mình sẽ làm gì với thời gian còn lại của ngày hôm nay: đi bơi, xem phim, nghe nhạc, hay chơi thể thao?.
Như thế, chúng ta cũng phải đối mặt với rất nhiều những quyết định trong một ngày. Nhưng cũng có lúc chúng ta phải đối mặt với những quyết định làm thay đổi toàn bộ cuộc đời của mình, ví dụ như chúng ta chọn học ngành gì? Ra trường sẽ làm việc cho doanh nghiệp nào? Mức thu nhập mong đợi là bao nhiêu?.khi chúng ta đang đưa ra những quyết định của mình thì những người khác xung quanh cũng đang đưa ra những quyết định cùa họ. Đôi khi 9 sự quyết định của người khác lại tác động đến quyết định theo sau của riêng ta. Ví dụ như quyết định của hãng Toyota về việc tung ra thị trường mẫu mã mới nào, số lượng sản xuất bao nhiêu, giá bán như thế nào? Tất cả các quyết định đều bắt nguồn từ sự lựa chọn, vốn là nền tảng cơ bản nhất của môn học kinh tế học mà sắp được nghiên cứu dưới đây.
Để bắt đầu, chúng ta cái nhìn đầu tiên về môn học này, đó là hiểu rõ khái niệm kinh tế học. Trước tiên chúng ta xem xét về nguồn lực: 1. Nguồn lực sản xuất Đối với mỗi cá nhân, nguồn lực bao gồm thời gian, tiền bạc, sức khỏe và kỹ năng. Còn đối với một quốc gia, nguồn lực bao gồm bốn yếu tố cơ bản, đó là đất đai, nguồn nhân lực, nguồn vốn và kiến thức kỹ thuật.
Nguồn lực của một quốc gia là các nhân tố được sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất cho nền kinh tế. Cụ thể: - Đất đai: Đất đai được hiểu theo nghĩa rộng là loàn bộ nguồn tài nguyên thiên nhiên được sử dụng trong quá trình sản xuất như đất tự nhiên, rừng, khoáng sản, dầu mỏ, tài nguyên nước, khí hậu. - Nguồn nhân lực: Là toàn bộ năng lực của con người được vận dụng trong việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ. - Nguồn von: là toàn bộ tư liệu sản xuất như nhà xưởng, máy móc thiết bị, kho tàng, phương tiện vận chuyển.
được sử dụng trong quá trình sản xuất hàng hóa và phân phối chúng đến người tiêu dùng. - Kiến thức kỹ thuật (hay công nghệ): bao gồm công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý. Nhu cầu và ước muốn của con người Nhu cầu là tất cả những gì mà con người cần thiết cho cuộc sống để có thể tồn tại như thực phẩm, quần áo, chỗ ở. Một khi thỏa mãn các nhu cầu, chúng ta cũng sẽ tiến đến thỏa mãn các ước muốn, chẳng hạn mua những hàng hóa xa xỉ để nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đặc tính của nhu cầu và ước muốn là: Thứ nhất, nhu cầu và ước muốn thì vô hạn. Xã hội không bao giờ đáp ứng sự thỏa mãn tất cả các nhu cầu và ước muốn của mọi người. Khi nhu cầu và ước muốn được thỏa mãn, chúng ta lại nảy sinh các nhu cầu 10 mới. Thậm chí có những nhu cầu và ước muốn không bao giờ thỏa mãn được như một chiếc xe hơi đời mới, điện thoại di động đời mới, quần áo thời trang, một điểm du lịch mới.
Tất cả những thứ này luôn thay đổi, và con người luôn mong muốn không ngừng. Khi được thỏa mãn một thứ, theo thời gian, chúng ta lại muốn thứ mới hơn. Do đó, nhu cầu và ước muốn của mỗi người luôn vô hạn. Thứ hai, một số nhu cầu và ước muốn có thể tái hiện, vi thế chúng ta cứ phải tìm cách thỏa mãn lại các nhu cầu này.
Chẳng hạn như nhu cầu ăn trưa sáng, ăn trưa và ăn tối mỗi ngày, ước muốn đi chơi các tối thứ Bảy. Những nhu cầu này lặp đi lặp lại thường xuyên, không bao giờ chấm dứt khi chúng ta còn sống, còn hoạt động. Thứ ba, nhu cầu và ước muốn có tính chất bổ sung. Nghĩa là để thỏa mãn một nhu cầu hay ước muốn nào đó buộc chúng ta phải tiêu thụ nhiều hơn một sản phẩm bổ sung, hỗ trợ cho nó.
Ví dụ như để thỏa mãn nhu cầu nghe nhạc, chúng ta có thể mua ta phải mua một đĩa CD và một máy hát đĩa CD, hoặc mua một chiếc điện thoại thồng minh và mua phần mềm tải nhạc, mua bản quyền bài hát. Cuối cùng, nhu cầu và ước muốn có thể thay đổi. Nhu cầu và ước muốn của mỗi cá nhân có thể thay đổi theo thời gian. Một đứa bé ba tuổi thích đi chơi với bố mẹ, thích nghe nhạc thiếu nhi, thích ăn bánh kẹo.
nên có những nhu cầu với những sản phẩm, dịch vụ và hoạt động tương ' ứng. Theo thời gian khi đứa bé lớn lên thành một thanh niên, những nhu cầu thay đổi thành đi chơi với bạn bè, đi xem phim, đi du lịch, ăn thức ăn nhanh. Từ đó chúng ta hiểu rằng nhu cầu và ước muốn của mỗi cá nhân và toàn xã hội vô cùng nhiều, đến mức không có giới hạn. Để đáp ứng nhu cầu và ước muốn thì con người cần xã hội cung cấp hàng hóa và dịch vụ.
Do đó, chúng ta sẽ đối mặt với vấn đề khan hiếm mà được phân tích trong nội dung tiếp theo. Sự khan hiếm Tất cả mọi vấn đề kinh tế đều bắt nguồn từ sự khan hiếm. Sự khan hiếm nghĩa là nhu cầu và ước muốn vượt quả nguồn lực sẵn có để thỏa s mãn chủng.'Con người mong muốn có được sức khỏe tốt, tuổi thọ cao, tiện nghi vật chất, sự an toàn, sự thoải mái tinh thần, và kiến thức. Những 11 ước muốn này không thể thỏa mãn cho tất cả mọi người và mọi người cũng có những ước muốn không thỏa mãn được.
Không ai cảm thấy thỏa mãn trọn vẹn về sức khỏe và tuổi thọ. Cũng không ai có đủ thời gian dành cho tất cả các hoạt động như thể thao, du lịch, giải trí, phim ảnh, đọc sách báo và các hoạt động giải trí khác mà họ theo đuổi. Khan hiếm không có nghĩa là nghèo khổ. Dù giàu có hay nghèo khổ đều cũng phải đối mặt với sự khan hiếm.
Một đứa trẻ muốn có 75 xu để uống nước ngọt và 50 xu để mua một thỏi sồ-cô-la nhưng chỉ có 1 đô la trong túi. Một sinh viên vừa muốn được đi dự tiệc vào tối thứ Bảy nhưng đồng thời muốn ở nhà làm bài tập. Đó là những ví dụ của sự khan hiếm. Đứa bé thì bị khan hiếm về tiền bạc vì nhu cầu và ước muốn của đứa bé (gồm 75 xu nước ngọt và 50 xu thỏi sô-cô-la, tổng cộng là 1,25 đô la) đã vượt quá số tiền mà đứa bé có (chỉ 1 đô la).
Còn người sinh viên thì lại khan hiếm về thời gian. Đổi mặt với sự khan hiếm buộc chúng ta luôn phải đứng trước những lựa chọn có sẵn. 1,1,1, 4, Sự lựa chọn Trong cuộc sống con người luôn đứng trước nhiều sự lựa chọn khác nhau, như một người tiêu dùng sẽ lựa chọn mua món hàng này hoặc món hàng kia; một gia đình quyết định nên sử dụng số tiền mà họ kiếm được như thế nào, các ưu tiên khi họ sử dụng số tiền đó; hay một Chính phủ sẽ quyết định sản xuất những loại hàng nào, ưu tiên phát triển những ngành nghề gì, phát triển kinh te theo mô hình nào. Vậy sự lựa chọn là gì? Căn cứ vào đâu để tiến hành lựa chọn? Cách thức lựa chọn được tiến hành như thế nào? Chúng ta có thề định nghĩa sự lựa chọn như sau: “Sự lựa chọn là sự so sánh của các yếu tố khác nhau để đưa ra một quyết định” Sự lựa chọn giúp mang lại các lợi ích về kinh tế-xã hội, đặc biệt là mang lại lợi ích cao nhất từ nguồn lực mà chúng ta đang có.
Sự lựa chọn được thực hiện khi xem xét các vấn đề sau: 12 Đường gỉởi hạn khả năng sản xuất (Production Possibility Frontier - PPF) Người ta có thể giải thích sự lựa chọn trên đây bằng một đường giới hạn khả năng sản xuất của xã hội. Khái niệm về đường giới hạn khả năng sản xuất như sau: “Đường giới hạn khả năng sản xuất là đường thể hiện các mức phối hợp tối đa của số lượng các loại sản phàm có thê sản xuất được khỉ sử dụng toàn bộ năng lực sẵn có của nền kinh tế. ’’ Để làm rõ đường giới hạn khả năng sản xuất giải thích được sự lựa chọn, chúng ta cần xem xét ví dụ sau: Giả định một nền kinh tế của một quốc gia sử dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có của mình chỉ đế sản xuất hai mặt hàng, đó là máy tính và xe máy. Sản lượng hai mặt hàng này có thể sản xuất được tối đa trong một năm được thế hiện trong bảng 1.1 dưới đây: (số liệu được sử dụng trong báng 1.1 chỉ có tính chất giả thuyết đơn giản).1: Lượng xe máy và mảy tỉnh được sản xuất ra trong một nền kỉnh tế Khả năng ‘ Máy tính Xe máy (1000 chiếc) (1000 chiếc) A 1000 0 B 900 10 c 750 20 p 550 30 E 300 40 F 0 50 Từ bảng 1.1 chúng ta có thể thiết lập đồ thị biều diễn đường giới hạn khả năng sản xuất với số lượng máy tính được thế hiện trên trục hoành và số lượng xe máy được thể hiện trên trục tung như sau: 13 Hình 1.1: Đồ thị đường giới hạn khả năng sản xuất PPF.