CHƯƠNG 1: KHÁI QUẢT VỀ KINH TÊ vĩ MÔ Đường tông câu sẽ dịch chuyên sang trái. Ngược lại, sự bùng nô của thị trường chứng khoán làm cho người ta cảm thấy giàu có và ít quan tâm đến tiết kiệm hơn. Việc chi tiêu cho tiêu dùng tăng lên, do vậy đường tổng cầu dịch chuyển sang phải. Như vậy, bất cứ sự kiện nào làm thay đổi tiêu dùng tại một mức giá nhất định cũng sẽ làm dịch chuyển đường tổng cầu.
- Sự dịch chuyển phát sinh từ đầu tư: Bất cứ sự kiện nào làm thay đổi đầu tư của các doanh nghiệp tại một mức giá nhất định cũng làm dịch chuyển đường tổng cầu. Nếu các doanh nghiệp bi quan về điều kiện kinh doanh trong tương lai thì họ có thể cắt giảm đầu tư và đường tổng cầu dịch chuyển sang trái. Chính sách thuế cũng ảnh hưởng tới tổng cầu. Chính sách giảm thuế đầu tư làm tăng đầu tư của doanh nghiệp tại bất kỳ mức giá nào.
Do đó, đường tổng cầu dịch chuyển sang phải. Một biến chính sách khác có thể ảnh hưởng tới đầu tư và tổng cầu là cung ứng tiền tệ. Chúng ta sẽ thảo luận đầy đủ hơn ở Chương 4 và 5. - Sự dịch chuyển phát sinh từ chỉ tiêu chính phủ: Một trong những cách trực tiếp làm thay đổi tổng cầu là thông qua chi tiêu chính phủ.
Ví dụ, trong trường hợp chính phủ khởi công xây dựng nhiều tuyến đường cao tốc Bắc Nam hơn thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải do lượng cầu về hàng hóa và dịch vụ cao hơn tại mọi mức giá. Ngược lại, nếu quốc hội quyết định cắt giảm các công trình đầu tư xây dựng cơ bản thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang trái. - Sự dịch chuyển phát sinh từ xuất khẩu ròng: Bất cứ biến cố nào làm thay đổi xuất khẩu ròng tại một mức giá nhất định đều làm cho đường tổng cầu dịch chuyển. Ví dụ, châu Âu rơi vào thời kỳ suy thoái và mua ít hàng hóa hơn từ Việt Nam, làm giảm xuất khẩu ròng của Việt Nam và dịch chuyển đường tổng cầu của Việt Nam sang trái.
Khi nền kinh tế châu Âu phục hồi và mua nhiều hàng hóa của Việt Nam thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang phải. Xuất khẩu ròng nhiều khi cũng thay đổi do sự thay đổi của tỷ giá hối đoái. Khi đó, đường tổng cầu cũng sẽ dịch chuyển.2 Tổng cung và các nhân tố ảnh hưởng Khái niệm tổng cung rất quan trọng khi nghiên cứu về năng lực sản xuất của một nền kinh tế. Tổng cung được định nghĩa là toàn bộ lượng hàng hóa và dịch vụ mà tất cả doanh nghiệp ở tất cả các ngành trong nền KINH TẾ vĩ MÔ 21 kỉnh tê sẽ sản xuât ở môi mức giá xác định (Blink & Dorton, 2013/ Chúng ta cần phân biệt tổng cung ngắn hạn SRAS (Short run Aggregate Supply), thường được viết gọn hơn là AS với tổng cung dài hạn LRAS (Long run Aggregate Supply).
Ở góc độ hình học, đường tổng cung ngắn hạn nhìn rất giống đường cung ở kinh tế học vi mô. Nó là đường thẳng dốc lên thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa mức giá chung của nền kinh tế và tổng lượng cung. Điều này được giải thích như thế nào? Tại mỗi mức giá xác định, các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế sẽ cung ứng một mức sản lượng nhất định. Trong trường họp nền kinh tế đạt được một mức sản lượng cao hơn, các doanh nghiệp dường như phải đối diện với chi phí trung bình cao hơn và để giải quyết việc này, các doanh nghiệp sẽ lựa chọn tăng giá.
Vì vậy sẽ làm cho mức giá chung trong nền kinh tế tăng lên. Hay là một trường hợp ngược lại mà chúng ta đã được học ở kinh tế học vi mô, một số doanh nghiệp trong ngành kinh tế đang sản xuất ở mức sản lượng chưa vượt quá ngưỡng biên tế (marginal), nên khi mức giá chung tăng cao hơn họ sẽ có điều kiện tăng lợi nhuận bằng cách tăng sản lượng do chi phí biên đang nhỏ hơn chi phí trung bình. Mối quan hệ đồng biến giữa mức giá chung và tổng lượng cung sẽ lý giải vì sao đường tổng cung ngắn hạn lại dốc lên (Blink & Dorton, 2013/ Tổng cung phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Những yếu tố chính là: mức giá chung của nền kinh tế, chi phí sản xuất và năng lực sản xuất quốc gia.
Chúng ta giả định rằng khi chi phí sản xuất không đổi, mỗi sự thay đổi trong mức giá chung sẽ dẫn đến sự thay đổi trong mức sản lượng quốc gia. Điều này được mô tả ở hình 1.4 bằng sự di chuyển dọc lên hay xuống theo đường tổng cung ngắn hạn. Bất kỳ sự thay đổi nào khác mức giá chung sẽ dẫn đến kết quả làm dịch chuyển đường tổng cung. Trong ngắn hạn, yếu tố làm dịch chuyển đường tổng cung chính là sự thay đổi của chi phí sản xuất (Blink & Dorton, 2013/ tăng chi phí sản xuất trong điều kiện mức giá chung của nền kinh tế không đổi luôn dẫn đến việc suy giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, dẫn đến quyết định cắt giảm sản lượng của doanh nghiệp.
Đây chính là quy luật cung đã được học ở kinh tế học vi mô. Trong hình 1-4, khi mức giá chung giảm từ P1 xuống P2, làm cho tổng lượng cung của các doanh nghiệp trong nền kinh tế giảm từ Y1 xuống Y2. 22 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VÈ KINH TÉ vĩ MÔ Y2 Y1 Y Y1 Y2 Y Hình 1.4 Di chuyển và dịch chuyển đường tong cung Khi các yêu tô khác với mức giá chung làm thay đôi hành vi cung ứng, đường tổng cung sẽ dịch chuyển. Ví dụ điển hình về sự thay đổi trong chi phí sản xuất làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn, đó là: - Sự thay đổi của tiền lương: tăng lương sẽ dẫn đến tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, vì vậy sẽ làm giảm tổng cung.
Chẳng hạn như khi chính phủ quyết định tăng lương tối thiểu vùng sẽ làm tăng chi phí lao động của doanh nghiệp. - Sự thay đổi chi phí đầu vào của sản xuất: sự thay đổi này luôn tác động mạnh đến tổng cung. Đặc biệt là giá dầu, giá chi phí vận chuyển ảnh hưởng sâu rộng đến hầu hết các ngành sản xuất trong nền kinh tế. Đường tổng cung trong dài hạn Trong dài hạn, quan điểm tiếp cận và lý giải về hình dạng của đường tổng cung dài hạn LRAS (Long run Aggregate supply) có sự khác nhau giữa các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes và các nhà kinh tế học trường phái tân cổ điển (Blink & Dorton, 2013) mặc dù tất cả các nhà kinh tế học thuộc hai trường phái trên đều có chung quan điểm về đường tổng cung ngắn hạn.
Trường phái tân cổ điển tập hợp các nhà kinh tế học ủng hộ quan điểm thị trường tự do cạnh tranh, cho rằng trong dài hạn, đường tổng cung sẽ thẳng đứng, hoàn toàn không co giãn tại mức sản lượng toàn dụng lao động. Họ cho rằng mức sản lượng này hoàn toàn phụ thuộc vào số lượng KỈNH TÊ VĨ MÔ 23 và chất lượng của các nguồn lực sản xuất, nó sẽ không phụ thuộc vào mức giá, cho dù giá tăng hay giảm, mức sản lượng toàn dụng này sẽ không thay đổi. Khi tổng cầu thay đổi, vì lợi ích của mình sẽ làm thay đổi hành vi của nhà sản xuất, chính sự điều chỉnh này đã làm cho đường tổng cung ngắn hạn thay đổi và dịch chuyển để trở về trạng thái cân bằng tại mức sản lượng toàn dụng lao động mà không có sự can thiệp của chính phủ như là kết quả của thị trường tự do cạnh tranh. Các nhà kinh tế học tiếp cận quan điểm theo Keynes chỉ ra rằng có ba giai đoạn của đường tổng cung dài hạn (Blink & Dorton, 2013): - Giai đoạn 1: Đường tổng cung dài hạn sẽ co giãn hoàn toàn khi nền kinh tế hoạt động ở mức thấp.
Các nhà sản xuất có thể tăng sản lượng mà không làm tăng chi phí trung bình bởi vì vẫn còn dư thừa nguồn lực sản xuất (tình huống này có thế hình dung nền kỉnh tế đang sản xuất tại một điểm bên dưới đường giới hạn khả năng sản xuất PPF). - Giai đoạn 2: Nền kinh tế đạt được mức sản lượng cao và tất cả nguồn lực dư thừa ở giai đoạn 1 được sử dụng hết nên các nguồn lực sản xuất dần trở nên khan hiếm. Vì vậy khi các nhà sản xuất cố gắng tăng sản lượng, họ sẽ phải trả mức giá cao hơn cho các nguồn lực sản xuất mà mình mong muốn sở hữu, chính điều này đã làm tăng chi phí sản xuất trung bình dẫn đến sự tăng lên trong mức giá chung của nền kinh tế. Đây chính là giai đoạn mà đường tổng cung dài hạn dốc lên.
- Giai đoạn 3: Khi nền kinh tế đạt đến mức sản lượng toàn dụng nguồn lực (Yf) và không thể tăng sản lượng trong tương lai do các nguồn lực sản xuất đã sử dụng hết một cách hiệu quả nhất (tình huống này có thể hình dung nền kinh tế đang sản xuất tại một điếm thuộc đường giới hạn khả năng sản xuất PPF). Lúc này đường tổng cung dài hạn sẽ hoàn toàn không co giãn, có nghĩa là không phụ thuộc vào sự thay đổi giá. Giai đoạn này giống với quan điểm về hình dạng đường tổng cung dài hạn của trường phái Tân co dien. 24 CHƯƠNG 1: KHẢI QUÁT VÊ KINH TÉ vĩ MÔ Đường tổng cung dài hạn theo quan điểm Keynes và Tân cô điên Hình 1,5 Di chuyển và dịch chuyển đường tổng cung dài hạn Từ việc phân tích quan điểm về đường tổng cung dài hạn ở trên, có thể kết luận rằng trong dài hạn, sản lượng hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn lực sản xuất.
Ở mức sản lượng toàn dụng lao động, do mức giá không ảnh hưởng đến sản lượng nên đường tổng cung dài hạn thắng đứng. Nói cách khác, trong dài hạn các yếu tố sản xuất quyết định tổng lượng cung về hàng hóa dịch vụ. Sự dịch chuyển đường tổng cung dài hạn là do các yếu tố thuộc nguồn lực sản xuất của quốc gia tăng lên (Mankiw, 2014) và chúng ta có thể gọi là năng lực sản xuất quốc gia. Điều này hoàn toàn giống với trường hợp đường giới hạn khả năng sản xuất PPF dịch chuyển ra bên ngoài (Blink & Dorton, 2013/ 1.3 Cân bằng tổng cung - tổng cầu Những tóm tắt bằng đồ thị hành vi của người mua và bán cung cấp những đầu mối ban đầu về chu kỳ kinh tế.
Đầu mối quan trọng nhất là điểm E trong hình 1-5 nơi các đường tổng cung và tổng cầu giao nhau.