lOMoARcPSD|16991370 Chương 4: TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ I. Khái niệm: Tiền là tất cả những thứ được xã hội chấp nhận dùng làm phương tiện thanh toán trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá dịch vụ. Bản thân chúng có thể có hoặc không có giá trị riêng và nó mang ý nghĩa lịch sử nhất định. Cụ thể, trong lịch sử phát triển tiền tệ - Tiền đã trải qua nhiều hình thái biểu hiện: + Tiền thể hiện bằng các vỏ sò, vỏ ốc.
+ Tiền do ngân hàng phát hành, trong đó gồm giấy bạc ngân hàng, kim loại. + Sec, thẻ tín dụng, tiền điện tử. Chức năng của tiền tệ: Có 03 chức năng cơ bản, đó là: (a) Là phương tiện thanh toán, trao đổi: Tiền là trung gian cho việc giao dịch, mua bán hàng hoá dịch vụ, nó cho phép trao đổi giá trị mà không cần dùng hàng hoá trực tiếp, tạo thuận lợi cho quá trình lưu thông hàng hoá, thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất. -> Yêu cầu: Cơ cấu các loại tiền đưa vào lưu thông phải phù hợp với cơ cấu các loại hàng hoá lưu thông trên thị trường.
Nghĩa là các loại tiền đưa vào lưu thông phải gán với nhiều mệnh giá khác nhau nhằm phù hợp với lượng giá trị của hàng hoá lớn hay nhỏ, cũng như đảm bảo cho việc thanh toán dễ dàng. Nói cách khác, hệ thống tiền tệ phải có đủ kích cỡ (lớn, vừa, nhỏ) (b) Là phương tiện dự trữ giá trị: Lưu giữ tiền thay cho việc lưu giữ hàng hoá. Tiền hôm nay có thể được tiêu dùng giá trị của nó trong tương lai. Tiền là một loại tài sản tài chính, tạo ra hoạt động tín dụng, thúc đẩy quá trình tích tụ, để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
58 Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 -> Yêu cầu : Tiền phải có giá trị ổn định. (c) Là phương tiện hạch toán: Tiền cung cấp 1 đơn vị tiêu chuẩn giá trị dùng để đo lường giá trị của các hàng hoá khác nhau. Tiền được dùng để hạch toán các hoạt động kinh tế từ sản xuất đến lưu thông, tiêu dùng của mọi quốc gia. Tiền dùng để so sánh chi phí, lợi ích của các phương án kinh tế.
Các hình thái của tiền tệ: 3. Hình thái tiền hàng hoá (hoá tệ): Dùng hàng hoá làm vật trung gian cho việc mua bán. -> Đặc điểm: Giá trị của tiền đúng bằng giá trị của vật dùng làm tiền. Tiền quy ước (chỉ tệ): Là loại tiền lưu hành do chỉ thị hay sự chi phép của chính phủ.
Có 2 loại: Tiền kim loại và tiền giấy. -> Đặc điểm: Giá trị ghi trên mặt đồng tiền chỉ là giá trị tượng trưng, giá trị đó lớn hơn rất nhiều so với giá trị của vật dùng làm tiền. Tiền qua ngân hàng (tiền ký thác): Là loại tiền được tạo ra từ các tài khoản: Séc - "Chueque". Các loại tiền, các khối tiền, tiền cơ sở, mức cung tiền: 4.
Các loại tiền: Căn cứ vào khả năng thanh toán nhanh hay chậm, ta có thể phân chia các loại tiền như sau: - Tiền mặt: là lượng tiền lưu hành với sự đa dạng về lượng giá trị danh nghĩa, tuy không sinh lợi nhưng có khả năng sẵn sàng thanh toán cao nhất. - Tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn có thể viết Sec. để thanh toán, cũng là 1 loại tiền có khả năng thanh toán cao, tuy rằng mức độ sẳn sàng cho thanh toán kém hơn tiền mặt, có sinh lời nhưng lãi suất thấp. => Tiền mặt và tiền gửi ngân hàng không thời hạn được nhiều nước coi là tiền giao dịch - một trong những đại lượng đo lượng cung tiền chủ yếu của một số quốc gia.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (ngắn hạn): Tuy tính chuyển đổi kém hơn so với tiền gửi ngân hàng, nhưng vẫn có khả năng chuyển sang tiền mặt mà 59 Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 không gặp nhiều khó khăn, nên nó cũng được coi là có khả năng thanh toán, có mức sinh lời cao. - Chứng khoán: với sự phát triển và lớn mạnh của hệ thống tài chính đã cho ra đời nhiều loại tài sản tài chính khác ngày càng trở nên quan trọng như các chứng khoán cơ bản (Trái phiếu, tín phiếu kho bạc ngắn hạn.), các giấy xác nhận tài chính đối với tài sản hữu hình, các chấp nhận thanh toán của ngân hàng. Chúng cũng có khả năng nhất định nào đó trong thanh toán, hay nói khác đi là chúng có khả năng thanh toán chậm. Tóm lại, trên giác độ vĩ mô người ta quan tâm nhiều hơn đến tiền mặt, tiền gởi ngân hàng không thời hạn, tiều gửi tiết kiệm, có kỳ hạn (ngắn hạn), đồng thời cũng theo dõi chặt chẽ động thái của các thành phần tiền tệ khác.
Vì vậy, khối lượng tiền tệ tuỳ mỗi thời kỳ mà mỗi quốc gia có thể lựa chọn các thành phần tiền tệ nêu trên dùng làm đại lượng chính đo mức cung tiền. Các khối tiền: - Khối M0: là toàn bộ lượng tiền mặt do ngân hàng do ngân hàng trung ương phát hành, đang lưu hành ngoài hệ thống ngân hàng. - Khối M1 = M0 + tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn có thể viết séc. và được gọi là khối tiền giao dịch.
- Khối M2 = M1 + tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (ngắn hạn): cũng được gọi là khối tiền giao dịch, hay chuẩn tệ. - M3 = M2 + Tiền được ký thác ở các định chế tài chính khác. Tiền cơ cở (H): Là toàn bộ lượng tiền mặt do ngân hàng trung ương phát hành. Bao gồm: - Tiền mặt lưu hành (U) - Tiền dự trữ trong các ngân hàng (R) => H = U + R 4.
Mức cung tiền (MS): Gồm các loại tiền có khả năng thanh toán cao nhất nhằm thoả mãn nhu cầu trao đổi giao dịch thường xuyên của nền kinh té. Bao gồm: - Tiền mặt đang lưu hành ngoài hệ thống ngân hàng (U) 60 Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 - Tiền gửi trong ngân hàng (D) => MS = U + D II. HỆ THỐNG NGÂN HÀNG (NHTM & NHTW) 1. Ngân hàng thương mại và quá trình tạo ra tiền, số nhân tiền tệ: 1.
Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là 1 doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, một tổ chức môi giới tài chính. - Hoạt động của ngân hàng thương mại: + Nhận và huy động tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức, các doanh nghiệp. + Cho vay để sinh lợi, hoặc đầu tư vào các chứng khoán, các tài sản khác. Ngân hàng thu lợi nhuận trên cơ sở lãi suất cho vay lớn hơn lãi suất tiền gửi.
- Dự trữ của ngân hàng thương mại: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng đã cho phép mỗi ngân hàng riêng biệt không cần phải lưu giữ đầy đủ mọi giá trị các khoản tiền vào, ra trong một ngày ở ngân hàng. Thông qua 1 hệ thống thanh toán của ngân hàng nhà nước mà ở đó mỗi ngân hàng thương mại đều có 1 tài khoản của mình. Việc thanh toán bù trừ được tiến hành và cuối ngày chỉ cầnd thanh toán khoản chênh lệch giữa toàn bộ số tiền gửi rút ra trên tài khoản của ngân hàng thương mại mở tại hệ thống thanh toán. Mỗi ngân hàng khi nhận được 1 khoản tiền gửi, bắt buộc phải để lại dự trữ theo tỉ lệ % nào đó do ngân hàng trung ương quy định và được gọi là tỉ lệ dự trữ bắt buộc (rb) + Dự trữ bắt buộc (Rb) là lượng tiền mà ngân hàng trung ương buộc ngân hàng thương mại phải dự trữ trên tổng số tiền nhận gửi và phải gửi vào tài khoản của mình ở ngân hàng trung ương.
Rb Rb = rb. D hay rb = D Rb: lượng tiền dự trữ bắt buộc rb: tỉ lệ dự trữ bắt buộc, do ngân hàng trung ương quy định. D: tiền gửi 61 Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 Mục đích của dự trữ bắt buộc: Số tiền dự trữ này chủ yếu dùng để đảm bảo khả năng ổn định cho việc chi trả thường xuyên của ngân hàng thương mại và yêu cầu quản lý tiền tệ của ngân hàng trung ương. Tuỳ theo loại tiền gửi và quy mô của chúng mà ngân hàng trung ương quy định những tỉ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau.
Ngoài phần tiền gửi vào tài khoản của mình tại ngân hàng TW, còn 1 phần tiền dự trữ được giữ tại ngân hàng thương mại dưới dạng tiền mặt gọi là lượng tiền dự trữ tuỳ ý (Rt) + Dự trữ tuỳ ý (Rt) là lượng tiền mặt được giữ lại ở các ngân hàng thương mại để đáp ứng nhu cầu chi trả khách hàng thường ngày. D Rt: lượng tiền dự trữ tuỳ ý rt : tỉ lệ dự trữ tuỳ ý, do NHTM tự quy định D: tiền gửi Vậy, tổng dự trữ của ngân hàng thương mại R = Rb + Rt => R = D (rb + rt) Nếu đặt ra = rb + rt và gọi là tỉ lệ dự trữ thực tế, ta có: R = ra. Quá trình tạo ra tiền và phá huỷ tiền qua ngân hàng: Giả định rằng: - Hệ thống ngân hàng có tỉ lệ dự trữ thực tế ra = 10%. - Mọi người có tiền đều gửi hết vào ngân hàng.
- Mọi ngân hàng đều kinh doanh hết số tiền còn lại sau dự trữ. * Vậy thì, cách thức mà các ngân hàng thương mại "tạo ra tiền" được cụ thể hoá như sau: Giả sử có 1 khách hàng 1.000USD vào ngân hàng A: Dự trữ 100USD Cho vay 900USD 62 Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 Người vay 900USD, đem số tiền này thanh toán tiền hàng cho người khác. Người này gửi số tiền nhận được vào ngân hàng B : Dự trữ 900USD Cho vay 810USD Tương tự như vậy, đến ngân hàng C : Dự trữ 81USD Cho vay 729USD Ngán haìng Như vậy, từ 1000USD → thì số tiền gửi tăng thêm là : ∆D = 1000 + 900 + 810 + 729 +. + 0,9n-1) Áp dụng cấp số nhân lùi vô hạn, với Sn = ∆D, a1 = 1 và q = 0,9.000 (là bội số của tiền gửi ban đầu -1000) Kết quả là, lượng tiền gửi tăng thêm trong toàn bộ hệ thống ngân hàng: 1 ∆D = r.
a * Phá huỷ tiền: Là quá trình rút tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng. Số nhân tiền tệ (mM): Là hệ số phản ánh khối lượng tiền (MS) được sinh ra từ 1 đơn vị tiền cơ sở. MS mM = => MS = mM. H H Giả sử mM = 2, có nghĩa là NHTWƯ phảt hành 1 đơn vị tiền cơ sở thì lượng tiền giao dịch trong nền kinh tế là 2 đơn vị.