đặt vấn đề xem xét lại vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế xã hội. Kinh nghiệm của Nhật Bận, một nước sớm Ìihận thức tầm quan trọng của nguồn nhân lực đã có chiến lược về phát triển con người từ thế kỷ XVII - XVIII, và sau đó, những năm cuối của thế kỷ XX, với sự xuất hiện các nước công nghiệp mới ở châu Á (NICs) đã chứng minh một lần nữa vị trí quan trọng của nguôn 3 nhân lực và khoa học và quản lý con người trong sản xuất kinh doanh, vì thế, có những bước phát triển mới. Đe có thể tiếp cận vói những nội dung của môn học, trước hêt, chúng ta cần nghiên cứu các khái niệm cơ bản sau. Sức lao động và lao động Sức lao động là pham trù chi khả năng lao động của con người, là tông hợp thể lực và trí lực của con người được con người vận dụng trong quá trình lao động.
Mác, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thê, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó. Như vậy, khả năng lao động cùa con người hay sức lao động được thê hiện: - Khả năng về thể chất (thể lực): chỉ rõ khả năng làm việc chân tay, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như chiều cao, cân nặng, sức mạnh cơ bắp, thị lực, thính lực,. - Khả năng về tinh thần (trí lực): chỉ rõ khả năng lam việc trí tuệ, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm công tác V. Ngày nay không chỉ dừng lại ở hai chỉ tiêu trên mà người ta còn quan tâm nhiêu đên năng lực phẩm chất của người lao động mà người ta gọi đó là tâm lực.
Vậy, năng lực phẩm chất là khái niệm chỉ rõ tính năng động, sáng tạo, thái độ làm việc, lòng tự tin, khả năng thích ứng, dễ chuyên đôi, làm việc có tinh thân trách nhiệm với cá nhân, nhóm và tổ chức v. Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì con người đó là con người lao động. Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản' Thứ nhât, xét vê tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người.
Đặc trưng này chỉ ra sự ichac biệt giữa hoạt động 4 lao động của con người và hoạt động có tính chất bản năng của con vật. Con vật duy trì sự tồn tại của mình dựa vào những sản vật có sẵn trong tự nhiên, còn con người dùng sức lao động của bản thân để tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình -cũng như cùa cộng đồng, của xã hội. Thứ hai, xét về mục đích, hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Đề cập đến điều này là nhàm phân biệt với những hoạt động có mục đích không nhằm thoà mãn nhu cầu chính đáng cùa con người, không nhằm phục vụ cho con người, cho sự tiến bộ của xã hội.
Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động. Thứ ba, xét về nội dung, hoạt động của con người phải là SỊT tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhàm tạo ra của cài cậí chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người. Đề cập đến điều này là để phân biệt với các hoạt động không tạo ra sản phẩm (vật chất và tinh thần), các hoạt động mang tính chất phá hoại tự nhiên. Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động.
Ngày nay, hoạt động lao động được quan niệm không chỉ là khai thác tự nhiên mà còn song song với nó là sự bồi đắp, bảo ton tự nhiên. Đến đây có thể thấy được sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm sức lao động và lao động; sự khác nhau thể hiện ở chỗ, nói đến sức lao động là nói đến khả năng lao động, còn nói đến lao động là nói đến hành động đang diễn ra. Như vậy, để biến khả năng lao động (sức lao động) thành hiện thực (lao động) cần phải có những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất, điều kiện con người, môi trường xã hội, v.), mà thiếu những điều kiện này, quá trình lao động không thể diễn ra được. Nhân lực và nguồn nhân lực(Human resourse) Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triên của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điểu kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Thật vậy, trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là 5 sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con ngươi. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguôn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chât và tinh thân cho xa hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhât định tại một thòi điểm nhất định. Khái niệm về nguồn nhân lực được sử dụng, rộng rãi ở các nước eó nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX V« ý ngỉứa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai tro yeu to con nêưcn trong quá trình phát triển. Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao đọng, cung ong c 1 bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng các ham y rọng hơn.
Trước đây, nghiên cứu về nguồn lực con người thường nhấn mạnh đến chất lượng và vai trò của nó trong phát triên kinh tê xã họi. Trong ỵ t uyet tăng trường kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trường kinh tê bên vững, thậm chi con ngươi được coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triên - vôn nhan lực. Ve phương diện này Liên Hiệp Quốc cho ràng, nguôn lực con người la tat ca nhưng kien thức, kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phat tnen kinh te xa hội của đất nước. Ngày nay, nguồn nhân lực còn bao hàm khia cạnh ve so lượng, không chỉ nhũng người trong độ tuổi mà cà những người ngoài độ tuôi lao động.
Để kế tục sự phát triển bền vững trong nguôn nhân lực, ben cạnh nguồn nhân lực có thể thu hút vào các hoạt động lao động hiện tại cân đặc biệt chú ý nguồn nhân lực tương lai- trẻ em. ơ nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rọng rai tư khi băt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Theo giáo sư, viện sỹ Phạm Minh Hạc, nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chât lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất).
Như vậy, nguôn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai. Từ những sự phân tích ừên, ờ dạng khái quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả 6 năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. vốn nhân lực (Human Capital)'.
Nguồn nhân lực chưa phải là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực với chất lượng thâp, sô lượng đông trong nhiều trường hợp lại ưở thành lực cản đối với sự phát triển. Vì vậy, ngày nay người ta quan tâm nhiều đến sự hình thành hoặc đầu tư để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith (1723-1790) là người đầu tiên đưa khái niệm về vốn nhân lực: "Sự tích ỉuỹ những tài năng trong quả trình học tập, nghiên cứu hoặc học việc thường đòi hỏi chi phí.
Đó là tư bản cố định đã kết tỉnh trong con người. Những tài năng đó tạo thành một phần tài sản của anh ta và của xã hội"1. Một số tác giả sau này cũng thống nhất khái niệm vốn nhân lực. Henrich Von Thunen viết: “Một dân tộc cỏ nhiều người được học tập cao sẽ tạo ra nhiều thu nhập hcm là một dân tộc không được học tập.
Một dân tộc được học tập nhiều hơn cũng sở hữu một tư bản lớn hơn, lao động đó đem lại nhiều sản phẩm hơn”} Alfred Marshall cũng chấp nhận khái niệm vốn nhân lực: “Chúng ta thường định nghĩa tài sản của cá nhân trước hết bao gồm năng lượng, năng lực và tài năng trực tiếp tạo hiệu quả sản xuât công nghiệp. Những thứ đó được coi là tài sản, là tư bản”} Do đó, vốn nhân lực là tập hợp kiến thức, khả năng, kỹ năng mà con người tích luỹ được. Muốn có vốn nhân lực, gia đình (trong đó có bản thân mỗi người) và xã hội phải đầu tư, vốn đó sẽ giúp con người kiếm sống suốt đời và góp phần làm giàu cho xã hội. Đó chính là giá trị của sức lao động.
Thật vậy, bất cứ cá nhân hay tập thể nào khi tham gia hoạt động kinh tế đều phải tính đến hiệu quả kinh tế mà biểu hiện tập trung nhất ở lợi 1 Xem H.Briggs: Economics of Education. 2 Xem Economics of Education. 3 Xem Economics of Education. Muốn có lợi nhuận cao, trước hết, họ phải đầu tư, hay bỏ vốn ra và kết quả họ phải tính được giữa cái thu về và cái họ phải bỏ ra.
Nguôn nhân lực cá nhân hay xã hội cũng vậy.