Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ HỌC CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN 1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của kinh tế học chính trị Trước khi Kinh tế học chính trị Mác - Lênin ra đời, đã xuất hiện những tư tưởng, những học thuyết kinh tế đại biểu cho lợi ích của những giai cấp khác nhau trong xã hội. Một số tư tưởng kinh tế thời cổ đại và trung đại a. Tư tưởng kinh tế thời cổ đại Những tư tưởng kinh tế thời cổ đại phản ánh trình độ phát triển kinh tế và trình độ nhận thức của con người trong xã hội chiếm hữu nô lệ.
Những người đã đề xuất các quan điểm, tư tưởng kinh tế thời đó là: Xenophon (430- 354); Platon (427-347); Aristoteles (384-322). Những tư tưởng kinh tế thời cổ đại chưa được khái quát thành hệ thống các phạm trù, quy luật mà chỉ được thể hiện trong các tác phẩm triết học, sử học, văn học nghệ thuật. Có thể khái lược những quan điểm, tư tưởng kinh tế thời cổ đại với những nội dung sau: Thứ nhất, coi chế độ chiếm hữu nô lệ là tất yếu. Platon đã mô tả một xã hội lý tưởng dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ, trong đó việc mua bán nô lệ là tất yếu nhằm củng cố quyền lực thống trị của giai cấp chủ nô.
Aristotles cho rằng chế độ nô lệ là do giới tự nhiên sáng tạo ra, và chỉ có 2 khoa học là làm thế nào để có nhiều nô lệ và nên sử dụng nô lệ như thế nào? Ông đã khuyến cáo giới chủ nô phải thường xuyên tiến hành chiến tranh để bắt tù binh về làm nô lệ; chia nô lệ thành từng nhóm nhỏ không cùng nguồn gốc, màu da; không cho nô lệ ăn quá đói nhưng cũng không nên cho ăn quá no. Theo Aristotles thì chiến tranh là không thể tránh được và chiến tranh “chính nghĩa” là chiến tranh cướp đoạt nô lệ để đem lại nguồn của cải vô tận Thứ hai, thái độ coi khinh lao động. Xenophon coi lao động chân tay là điều không đáng làm vì nó có thể làm hư hỏng thân thể con người. Người lao động không thể là người chiến binh hoặc là người bạn tốt.
Platon quan niệm về một nhà nước lý tưởng mà xã hội 5 được chia thành những đẳng cấp khác nhau. Trong đó tầng lớp trên là giới chủ nô, là những người thông thái; tầng lớp thứ hai là những chiến binh có nhiệm vụ bảo vệ nhà nước, bảo vệ chế độ đương thời; tầng lớp thứ ba là những thợ thủ công và những thị dân có nhiệm vụ phục vụ lợi ích của hai tầng lớp trên. Những nô lệ - người trực tiếp làm ra của cải cho xã hội, chỉ là những “công cụ biết nói” chứ không thể được coi là những công dân của thành Aten. Thứ ba, tư tưởng phủ nhận thương nghiệp và đề cao nền kinh tế tự cấp, tự túc.
Liên quan đến sản xuất và trao đổi hàng hoá, Platon cho rằng thương nghiệp là một tội ác, là việc làm xấu xa.vì nó làm cho con người phát triển tính giả dối, lừa gạt. Theo Aristotles, cho vay nặng lãi cũng đáng phải lên án như việc kinh doanh nhà thổ. Các nhà tư tưởng thời cổ đại lên án cho vay nặng lãi, hoạt động thương nghiệp vì những hoạt động này làm lung lay chế độ chiếm hữu nô lệ và quyền lực của tầng lớp chủ nô. Thứ tư, bước đầu xem xét và phân tích một số hiện tượng kinh tế - xã hội.
Platon coi sự phân công xã hội là cơ sở sinh ra hoạt động trao đổi, sinh ra giai cấp và nhà nước. Tuy chưa đề cập tới nguồn gốc và bản chất của tiền nhưng ông đã phát hiện chức năng lưu thông của tiền. Ông còn cho rằng tiền tệ và thương nghiệp thúc đẩy phân công phát triển. Aristotles là nhà tư tưởng kinh tế lớn nhất thời cổ đại.
Ông là người đầu tiên phân biệt sự khác nhau giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi; đồng thời nêu ra hai loại thương nghiệp là: thương nghiệp trao đổi (H - H hoặc H - T - H) và đại thương nghiệp (T - H - T). Mục đích của thương nghiệp trao đổi là để tổ chức kinh tế tốt hơn. Còn mục đích của đại thương nghiệp là để có nhiều tiền, để làm giàu.Vì vậy, hoạt động đại thương nghiệp là trái đạo đức, không hợp quy luật. Tư tưởng kinh tế thời trung cổ Các tư tưởng kinh tế thời trung cổ đều đứng về phía lợi ích của giai cấp địa chủ quý tộc và giới giáo sĩ; mang tính phiến diện, đề cao cưỡng bức phi kinh tế, bênh vực bạo lực và chiến tranh theo tinh thần hiệp sĩ.
Đề cập tư tưởng kinh tế thời trung cổ trước hết phải kể đến phạm trù “giá cả công bằng” của Augustin Siannt (linh mục người Italia - 354 - 450).Theo Augustin Siannt, một mặt, giá cả công bằng là giá cả trung bình phù hợp với hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá, trên một ý nghĩa nào đó giá cả công bằng chính là tư tưởng trao đổi ngang giá. Bên cạnh đó ông lại giải thích giá cả 6 công bằng một cách chủ quan dựa vào tư tưởng phân biệt đẳng cấp xã hội. Ông ta cho rằng cùng trao đổi một loại hàng hoá, mỗi đẳng cấp có một giá cả công bằng riêng. Điều này có nghĩa là giá cả hàng hoá không phụ thuộc vào giá trị, không phụ thuộc vào cung - cầu, mà phụ thuộc vào địa vị xã hội của những người tham gia trao đổi trên thị trường.
Một đại biểu khác cho tư tưởng kinh tế thời trung cổ là Thomasd Aquin(1225-1274) người Italia. Xuất thân từ một gia đình quý tộc nên ông là người bảo vệ giáo lý nhà thờ; bảo vệ chế độ sở hữu phong kiến và sự thống trị của giai cấp địa chủ, quý tộc. Tư tưởng kinh tế của Thomasd Aquin mang tính hai mặt và còn nhiều yếu tố duy tâm chủ quan. Một mặt ông cho rằng giới tự nhiên do thượng đế sinh ra và sản phẩm nông nghiệp phát sinh từ thượng đế nên sản xuất nông nghiệp hợp ý muốn của chúa trời, hợp với giáo lý nhà thờ và là việc làm từ thiện.
Còn tài sản tiền tệ, sự giàu có từ trao đổi và cho vay nặng lãi là sự chiếm đoạt của người khác. Nó trái với lòng tốt của con người. Mặt khác, Thomasd Aquin lại cho rằng người ta có thể hoạt động thương nghiệp để có lợi nhuận. Lợi nhuận thương nghiệp cũng có tính hợp pháp, cũng hợp với giáo lý khi người ta thực hiện tích luỹ tiền tệ để theo đuổi mục đích từ thiện.
Nói chung, tư tưởng kinh tế thời trung cổ đại biểu cho lợi ích của giai cấp địa chủ quý tộc và giới tu hành. Cuối thời kỳ phong kiến, khi sản xuất hàng hoá và hoạt động trao đổi ngày càng phát triển, còn xuất hiện những tư tưởng dung hoà lợi ích của địa chủ quý tộc với lợi ích của tầng lớp thương nhân và cho vay nặng lãi. Kinh tế chính trị tư sản cổ điển và những cống hiến của C. Lênin cho kinh tế học chính trị Kinh tế chính trị với tư cách là một khoa học độc lập ra đời vào thế kỷ 17, cùng kỷ nguyên ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Montchsetien(1575-1629)- đại biểu của trường phái trọng thương Pháp) là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ kinh tế chính trị. Kinh tế chính trị (Oiconomia- Politria) tiếng Hy Lạp có nghĩa là “quy luật kinh tế của một thiết chế xã hội”. Người sáng lập ra kinh tế chính trị tư sản cổ điển là W.Petty (1623-1687) người Anh và F.Quesnay (1694 - 1774) người Pháp. Đại biểu xuất sắc nhất của kinh tế chính trị tư sản cổ điển là hai nhà kinh tế học người Anh: A.
Gọi là Kinh tế học tư sản cổ điển hay Kinh tế chính trị tư sản cổ điển, vì thời kỳ đó bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp; giai cấp tư sản đang lên, họ 7 đại biểu cho một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn nên lợi ích của họ ít nhiều còn phù hợp với lợi ích của xã hội Lý luận của A.Smith phản ánh sự phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kỳ công trường thủ công. Trong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các dân tộc” (1776), ông xác định kinh tế chính trị có hai nhiệm vụ: một là, phân tích thực tiễn khách quan nền kinh tế và giải thích tính quy luật phát triển của nó; hai là, đưa ra những đề nghị cụ thể về các chính sách kinh tế cho nhà nước và giới chủ. Điểm xuất phát trong phân tích kinh tế của ông là nhân tố “con người kinh tế” và lý thuyết “bàn tay vô hình”.Smith cho rằng, loài người là một liên minh trao đổi. Trong khi trao đổi sản phẩm lao động cho nhau, phục vụ lẫn nhau thì con người luôn bị chi phối bởi lợi ích cá nhân.
Song khi chạy theo lợi ích cá nhân thì “người kinh tế” bị “Bàn tay vô hình” bắt buộc phải làm một việc không nằm trong dự kiến là đáp ứng lợi ích xã hội. “Bàn tay vô hình” chính là các quy luật kinh tế khách quan, tự phát hoạt động chi phối hành động của con người. Điều kiện để các quy luật kinh tế khách quan hoạt động là: phải có sản xuất và trao đổi hàng hoá, nền kinh tế phát triển trên cơ sở tự do kinh tế và tự do thương mại. Quan hệ giữa người với người là quan hệ phụ thuộc về kinh tế.
Ông đã nêu lên rất nhiều phạm trù, quan điểm kinh tế như: tiền là “phương tiện kỹ thuật”, là “bánh xe vĩ đại” của lưu thông; lao động là thước đo cuối cùng của giá trị; giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi.Ricardo sống và nghiên cứu kinh tế trong thời đại cách mạng công nghiệp. Đó là điều kiện khách quan cho lý thuyết kinh tế của Đ.Ricardo vượt lên trên A.Smith trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học” (1817), Đ.Ricardo xác định đối tượng và phương pháp của kinh tế học chính trị là xác lập các quy luật phân phối sản phẩm (tức thu nhập) của ba giai cấp trong xã hội.Ricardo đã đứng vững trên quan điểm giá trị - lao động để phân tích các phạm trù: tiền lương, lợi nhuận, địa tô.