Chương 1 giúp người học đạt được các kiến thức nền tảng về kiểm toán, tạo tiền đề nghiên cứu các vấn đề chuyên sâu về kiểm toán, kiểm soát. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA KIỂM TOÁN 1. Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm toán a. Trên thế giới Kiểm tra tài chính là yêu cầu tất yếu của quản lý và có thể thực hiện ngay trong các hoạt động này hoặc tách biệt thành một hoạt động độc lập.
Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và khả nĕng thoả mãn nhu cầu thông tin đó ở các phân hệ quản lý (trước hết là kế toán) sẽ ảnh hưởng tới mức độ độc lập hay phụ thuộc của hoạt động kiểm tra trong quản lý. Lịch sử kế toán và kiểm tra tài chính đã chứng minh mối quan hệ hữu cơ này: Kế toán được thực hiện chủ yếu bằng những dấu hiệu riêng trên các sợi dây, thân cây, lá cây,. ở giai đoạn đầu của thời kǶ cổ đại khi mà xã hội còn chưa có của cải dư thừa, nhu cầu kiểm tra trong quản lý còn thấp và ở mức rất đơn giản. Tuy nhiên vào cuối thời kǶ cổ đại, sản xuất đã phát triển, của cải thừa ngày càng nhiều đã tạo nên sự tách rời giữa người sở hữu tài sản và người quản lý, cất trữ tài sản.Vì vậy nhu cầu kiểm tra tài sản và các khoản thu, chi ngày càng tĕng và phức tạp.
Hình thức kế toán đơn giản không còn đáp ứng được yêu cầu mới của quản lý và kiểm tra độc lập đã hình thành và phát triển ở La Mã, Anh và Pháp. Vào thế kỷ thứ III trước Công nguyên, các nhà cầm quyền La Mã đã tuyển dụng những quan lại chuyên kiểm tra và trình bày lại kết quả kiểm tra, đúng với ý nghƿa ban đầu của thuật ngữ “audit”. Vua Charlemange (768-814) của 4 Pháp cǜng theo tiền lệ của La Mã tuyển các quan chức cao cấp giám sát công việc quản lý, đặc biệt là nghiệp vụ tài chính của các quan chức địa phương và trình bày lại các kết quả với Hoàng đế, quan cận thần. Vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên, ở Pháp đã có Chuyên luận "Quản hạt quan án" khuyên các vị nam tước hàng nĕm đọc công khai báo cáo về tài sản trước các kiểm tra viên.
Còn ở Anh, vua Edward đệ nhất cho phép các nam tước quyền tuyển dụng kiểm tra viên (auditor) và cho đối chiếu lại các tài khoản thuộc di chúc của người trong hoàng gia. Từ thời kǶ Trung đại, kế toán đã phát triển dần và hoàn thiện như buộc buộc 2 bên cùng ghi sổ các khoản giao dịch để hợp thức được các quan hệ đối chiếu. Ěặc biệt từ thế kỷ thứ XVI, kế toán kép xuất hiện đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu quản lý và an toàn tài sản thời bấy giờ. Từ thế kỷ thứ XVII đến đầu thế kỷ thứ XX, các phương pháp kế toán và kƿ thuật thông tin phát triển đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu quản lý.
Từ những nĕm 30 của thế kỷ thứ XX, các quan hệ tài chính đã phát triển tới mức vượt khỏi tầm kiểm soát của kế toán. Sự phá sản của hàng loạt tổ chức tài chính và khủng hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính là dấu hiệu chứng minh yếu điểm của kế toán và kiểm tra so với yêu cầu quản lý mới. Sau cuộc khủng hoảng tài chính nĕm 1929 ở Mƿ, từ nĕm 1934, Ủy ban Bảo vệ và Trao đổi tiền tệ (SEC) đã được thành lập và “Quy chế về Kiểm toán viên bên ngoài” bắt đầu có hiệu lực. Ěồng thời, Viện Kế toán viên công chứng Hoa KǶ (American Institute of Certified Public Accountants - AICPA) đã ban hành mẫu chuẩn đầu tiên về báo cáo kiểm toán tài khoản của các công ty.
Trong các xí nghiệp, việc kiểm tra của các kiểm toán viên nội bộ cǜng bắt đầu phát triển, đánh dấu bằng việc Viện Kiểm toán viên nội bộ (IIA) được thành lập nĕm 1941 và công bố chức nĕng của kiểm toán nội bộ. Trong lƿnh vực công, xuất hiện nhiều tổ chức kiểm toán của chính phủ trong các lƿnh vực quân đội, hành chính và các xí nghiệp công như Vĕn phòng Tổng Kế toán (General Accounting Office - GAO) được thành lập từ nĕm 1921, nay là Vĕn phòng giải trình trách nhiệm Chính phủ (Government Accountability Office), có vai trò quyết định trong việc mở rộng địa bàn kiểm toán. Các chuẩn mực của GAO được công bố một mặt khẳng định lợi ích kiểm toán trong khu vực phi thương mại và mặt khác đã khẳng định quan điểm và phương pháp mới để đánh giá hiệu quả của các nghiệp vụ phi thương mại. Từ những nĕm 50 của thế kỷ thứ XX, nghiệp vụ ngoại kiểm đã được bổ sung liên tục về cấu trúc, phương pháp và kƿ thuật còn hoạt động nội kiểm cǜng vượt qua giới hạn chỉ ở lƿnh vực kế toán - tài chính để mở rộng sang việc đối soát và đánh giá cả hệ thống quản lý của doanh nghiệp.
Công ty kiểm toán độc lập đầu tiên trên thế giới là Price Waterhouse Cooper 5 (PwC) được thành lập trụ sở chính tại Vương quốc Anh vào nĕm 1854. Sau đó, các doanh nghiệp kiểm toán độc lập nổi tiếng khác được thành lập là Deloitte, Ernst & Young, KPMG và PwC. Ěến nay, các doanh nghiệp này đã trở thành 4 công ty kiểm toán độc lập lớn nhất thế giới, được gọi là Big Four, cung cấp các dịch vụ kiểm toán, kế toán, thuế, tư vấn quản lý, tài chính doanh nghiệp và pháp lý cho các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia. Tại Pháp, Ěạo luật về Các công ty thương mại ngày 24/7/1966 quy định việc kiểm tra của bên ngoài do những người chuyên nghiệp đảm nhận độc lập.
Ěồng thời, trong các công ty chi nhánh của các tập đoàn ngoại quốc, các tổ chức ngân hàng đã tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ vào những nĕm 1960 và phát triển với việc mở rộng quy mô của các công ty nhằm tĕng cường sự ổn định và hiệu quả của các xí nghiệp. Pháp thành lập Hội Kiểm soát viên nội bộ nĕm 1965, tiền thân của Viện Nghiên cứu kiểm toán viên và kiểm soát viên nội bộ của Pháp vào nĕm 1973. Trong khu vực công, tổ chức kiểm toán công được thành lập thuộc Ủy ban Ěối chiếu tài khoản của các xí nghiệp, đến nĕm 1976, Ěạo luật Tài chính sửa đổi ngày 22/6/1976 đã giao việc đối chiếu các tài khoản và quản lý các xí nghiệp công cộng cho Tòa Thẩm kế. Cho đến nay, Tòa Thẩm kế Pháp là một trong các cơ quan kiểm toán tối cao có uy tín với những kinh nghiệm lâu nĕm và luôn hỗ trợ các cơ quan kiểm toán tối cao còn non trẻ như kiểm toán Nhà nước Việt Nam trong quá trình hoạt động.
Việt Nam Kiểm tra nói chung và kiểm tra kế toán nói riêng đã được Nhà nước Việt Nam quan tâm ngay từ thời kǶ bắt đầu xây dựng đất nước sau các giai đoạn kháng chiến chống Pháp, Mỹ. Công tác kiểm tra và bộ máy kiểm tra được tổ chức phù hợp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung: Nhà nước là người quản lý vƿ mô đồng thời là chủ sở hữu thực hiện các hoạt động kiểm tra nói chung. Kiểm soát nội bộ được thực hiện thông qua tự kiểm tra của kế toán; kiểm tra của Nhà nước chủ yếu được thực hiện thông qua xét duyệt hoàn thành kế hoạch, xét duyệt quyết toán và thanh tra theo vụ việc. Sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế những nĕm 90 thế kỷ XX, kiểm toán độc lập đã hình thành, kiểm toán Nhà nước cǜng đã được thành lập và bước đầu áp dụng kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp Nhà nước.
Trong phạm vi giáo trình sẽ giới thiệu tới người học các nét cơ bản về lịch sử của kiểm tra kế toán, kiểm toán của Việt Nam. Về kiểm tra kế toán Thời kǶ bắt đầu xây dựng xã hội chủ nghƿa ở Miền Bắc, Nhà nước đã ban hành Chế độ Sổ kế toán trên Hệ thống các lệnh nhật ký nĕm 1957 gồm 27 lệnh nhật ký dùng cho các đơn vị kinh tế thuộc sở hữu nhà nước nhằm thể hiện mục 6 tiêu thể chế và thực hiện sự thống nhất, tiêu chuẩn hoá công tác kế toán, kiểm tra phục vụ cho yêu cầu quản lý của xí nghiệp và Nhà nước. Mỗi nhật ký yêu cầu cung cấp thông tin cho quản lý và yêu cầu kiểm tra hoạt động tài chính. Tuy hệ thống pháp chế đơn giản nhưng ý thức trách nhiệm và kỷ cương trong công tác tài chính, kế toán rất tốt đã góp phần quan trọng tạo nền nếp cho công tác quản lý tài chính.
Nĕm 1967, Liên bộ Thống kê và Tài chính đã ban hành Chế độ Ghi chép ban đầu áp dụng cho các xí nghiệp quốc doanh và một loạt chế độ về tài khoản kế toán, bộ nhật ký chứng từ, hệ thống các báo cáo thống kê - kế toán, góp phần phục vụ đắc lực cho sự quản lý của Nhà nước đối với công cuộc xây dựng chủ nghƿa xã hội và các doanh nghiệp quản lý nền kinh tế. Hệ thống Nhật ký chứng từ đã chứa đựng nhiều yếu tố của kiểm tra từ cân đối tổng quát đến cân đối cụ thể qua đối chiếu các chỉ tiêu trên cùng một nhật ký và giữa các nhật ký, các bảng kê khác nhau. Nĕm 1971, Nhà nước tiếp tục ban hành Chế độ kế toán sửa đổi theo yêu cầu mới: tính chất thống nhất, toàn diện và tiêu chuẩn hoá được nâng lên đáng kể; sự can thiệp của Nhà nước trong kiểm soát các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước và thực hiện bước đầu công bằng về pháp luật, tài chính, lợi ích kinh tế giữa các thành phần kinh tế xã hội thuộc các lƿnh vực kinh doanh, các hình thức sở hữu khác nhau. Quá trình phát triển lƿnh vực kế toán là những mốc biến đổi quan trọng, góp phần tĕng cường quyền lực chính trị, kinh tế, tài chính của bộ máy quản lý nhà nước trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Giai đoạn 1988 - 1990, Nhà nước ban hành Pháp lệnh Kế toán Thống kê và ban hành một hệ thống các chế độ và vĕn bản pháp lý về các chế độ kế toán áp dụng thống nhất cho mọi lƿnh vực, mọi thành phần kinh tế khác nhau; các chế độ kế toán chuyên ngành, chuyên lƿnh vực nhằm đưa công tác kế toán, thống kê vào kỷ cương và tĕng cường pháp chế cho kế toán.