ĐẶT VẤN ĐỀ - TÌNH HUỐNG MÔ TẢ Tại Việt Nam, việc gian lận khai khống hàng tồn kho của Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành (Mã chứng khoán: TTF) đã gây ra nhiều chấn động lớn cho các cổ đông – những nhà đầu tư cổ phiếu. Cụ thể, trong Quý II/2016, theo kết quả kiểm toán của Công ty Kiểm toán Ernst &Young (E&Y), trong phần thuyết minh giá vốn hàng bán bất ngờ xuất hiện khoản “Hàng tồn kho phát hiện thiếu khi kiểm kê” lên tới gần 980 tỷ đồng. Công ty E&Y cho biết đã không được chứng kiến việc kiểm kê thực tế hàng tồn kho của TTF tại ngày 31/12/2015. Các thủ tục soát xét thay thế cũng không cung cấp cho Công ty E&Y đầy đủ bằng chứng thích hợp đối với số lượng hàng tồn kho 10 tại thời điểm nói trên.
Dựa trên các thông tin hiện có, EY cho biết không thể xác định liệu có cần điều chỉnh đối với số dư hàng tồn kho ngày 31/12/2015 và khoản lỗ thuần trong nửa đầu năm hay không. Vì vậy, Công ty E&Y đã điều chỉnh thẳng vào chi phí giá vốn hàng bán Quý II/2016 thành 1.690 tỷ đồng dẫn tới khoản lỗ gộp là 807 tỷ đồng và lỗ ròng là 1. Số dư hàng tồn kho tại thời điểm 30/06/2016 còn 1.834 tỷ đồng, giảm 510 tỷ đồng so với thời điểm đầu năm. Hậu quả là giá trị doanh nghiệp sụt giảm thê thảm, cổ phiếu giảm sàn liên tục (EPS đạt -7.571 đồng/cổ phiếu), giá trị doanh nghiệp sụt giảm thê thảm và hơn hết TTF đứng trước nguy cơ phá sản hơn bao giờ hết.com/Upload/ReportFile/TTF%20BCTC%20hop%20nhat%20 6%20thang%20nam%202016%20(1).pdf) Yêu cầu: Căn cứ vào nội dung của tình huống Anh (chị) hãy cho nhận xét về kết quả và nguyên nhân của hoạt động quản trị tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành 1.
Một số khái niệm 1. Quản trị công ty Sau hàng loạt các cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra như: Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, khủng hoảng toàn cầu năm 2001 và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007- 2008…, vấn đề quản trị công ty đặc biệt là quản trị các công ty niêm yết trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu tại mỗi quốc gia. Quản trị doanh nghiệp tốt đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ xây dựng một môi trường kinh doanh tin cậy, minh bạch và trách nhiệm, từ đó thúc đẩy đầu tư dài hạn, ổn định tài chính và thực hiện liêm chính trong kinh doanh và góp phần thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ hơn và xây dựng xã hội toàn diện hơn. Ở góc độ vi mô, quản trị doanh nghiệp tốt sẽ tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh doanh, sử dụng tốt nguồn tài nguyên khan hiếm, dễ dàng tiếp cận với các nguồn vốn dài hạn, đồng thời đảm bảo được quyền lợi và sự đối xử bình đẳng với các cổ đông, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.org/corporate/) 11 - Thuật ngữ quản trị công ty (Corporate Governance) được đề cập lần đầu trong một nghiên cứu về đánh giá rủi ro và kiểm soát doanh nghiệp khi tồn tại sự tách biệt về “quyền sở hữu” và “quyền kiểm soát” của F.
- Theo các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp 2015 của OECD, quản trị công ty là một hệ thống các biện pháp nội bộ để quản lý, kiểm soát công ty, trong đó, tập trung vào mối quan hệ giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc, cổ đông và các bên có liên quan khác (https://www.org/governance/g20-oecd-principles-of-corporate- governance- 2015_9789264236882-en). Để quản trị tốt, doanh nghiệp cần phải đảm bảo các yếu tố như: i. Xây dựng được chiến lược phát triển rõ ràng; ii. Thiết kế và vận hành hệ thống các quy trình kiểm soát mọi hoạt động kinh doanh một cách đầy đủ; iii.
Có hệ thống nhân sự có năng lực phù hợp với yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp; iv. Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thích hợp. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD (Organization for Economic co- operation and development) là diễn đàn gồm các chính phủ của 36 nước kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cũng như trên 100 nước không phải là thành viên cùng nhau bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề kinh tế cũng như các vấn đề chung khác. Bộ nguyên tắc về Quản trị công ty gần đây nhất mà OECD ban hành vào năm 2015 được xem như khuôn khổ chuẩn mực trong lĩnh vực quản trị công ty được nhiều quốc gia tham khảo bởi bộ nguyên tắc này có các hướng dẫn chi tiết cho các nhà hoạch định chính sách và đề cập một cách khá đầy đủ các lĩnh vực trong phạm vi quản trị công ty.
- Gần đây nhất, ngày 6/6/2017, Bộ Tài chính đã ban hành Nghị định số 71/2017/NĐ - CP hướng dẫn về quản trị công ty áp dụng đối với công ty đại chúng, trong 12 đó xác định rõ “Quản trị công ty” là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty. Các nguyên tắc quản trị công ty được đề cập trong Nghị định bao gồm: i. Đảm bảo cơ cấu quản trị hợp lý; ii. Đảm bảo hiệu quả hoạt động của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; iii.
Đảm bảo quyền lợi của cổ đông và những người có liên quan; iv. Đảm bảo đối xử công bằng giữa các cổ đông; v. Công khai minh bạch mọi hoạt động của công ty. Thực hiện kinh doanh liêm chính dựa trên nền tảng tuân thủ đạo đức kinh doanh sẽ mang lại cho các doanh nghiệp các lợi ích dưới đây và là chìa khóa hướng tới phát triển bền vững bao gồm: - Xây dựng sức mạnh và sự gắn kết nội bộ thông qua chia sẻ các giá trị cốt lõi; - Tăng cường cơ chế giám sát và trách nhiệm trong kinh doanh; - Tạo lập vị thế và danh tiếng trên thị trường, thúc đẩy hội nhập và tiếp cận các cơ hội kinh doanh; - Phòng ngừa và giảm thiểu các sai phạm/vi phạm trong hoạt động kinh doanh, tránh các rủi ro về pháp lý do vi phạm các quy định pháp luật; - Duy trì và tuân thủ các quy tắc đạo đức trong kinh doanh, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh hướng tới phát triển bền vững (nói KHÔNG với tham nhũng và các hành vi tiêu cực); - Một cơ chế KSNB hiệu quả và bộ quy tắc ứng xử phù hợp sẽ là công cụ hữu ích giúp doanh nghiệp thực hiện kinh doanh liêm chính.
Trong công tác quản trị doanh nghiệp, vai trò quan trọng của nhà quản lý doanh nghiệp trong việc xác định chiến lược, tầm nhìn, giá trị cốt lõi của doanh nghiệp cũng 13 như gây dựng niềm tin và phát triển văn hóa doanh nghiệp. Một nhà quản lý tốt không chỉ cần năng lực quản lý mà còn cần có khả năng phán đoán, dự báo và đánh giá chuẩn xác về những biến động của môi trường kinh doanh, qua đó chủ động đề xuất những thay đổi thích hợp để dẫn dắt doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Để làm được điều này, nhà quản lý cần kiểm soát được mọi hoạt động đang diễn ra trong đơn vị một cách hiệu quả thông qua việc thiết kế một cơ chế KSNB khoa học, thích hợp và tổ chức vận hành nó một cách thường xuyên, có hiệu quả. “Nhà quản lý doanh nghiệp là người quản lý công ty và là người quản lý doanh nghiệp tư nhân, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty”.
Nhà quản lý trong doanh nghiệp là những người chịu trách nhiệm lên ý tưởng, kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát con người, tài chính, vật chất, thông tin một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Kiểm soát và kiểm soát nội bộ Khái niệm về KSNB được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau như quản trị kinh doanh, kế toán và tài chính… Nhìn chung, trong suốt giai đoạn hình thành, khái niệm KSNB không ngừng được mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Thông lệ về KSNB đã được nghiên cứu bởi Ủy ban các tổ chức bảo trợ (COSO - Committee Of Sponsoring Organizations) thuộc Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên báo cáo tài chính (National Commission on Finalcial Reporting hay gọi tắt là Treadway Commission) từ những năm 1985. Trước khi báo cáo COSO (1992) ra đời, KSNB vẫn dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong thực hành kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC).
Đến năm 1992, trước bối cảnh các công 14 ty ở Hoa Kỳ phát triển nhanh, kèm theo đó là tình trạng gian lận gia tăng nhanh chóng gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, nhiều Ủy ban đã được thành lập nhằm tìm kiếm những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, khắc phục các hành vi gian lận và hỗ trợ phát triển kinh tế trong đó có COSO. COSO đã chuẩn hóa và ban hành các nguyên tắc, yêu cầu, nội dung KSNB trong báo cáo COSO đầu tiên vào năm 1992 (gọi tắt là báo cáo COSO 1992) về KSNB. Nhiều quy định của pháp luật (như Luật Sarbanes Oxley (SOX) của Hoa Kỳ, Luật Doanh nghiệp, Luật các Tổ chức Tín dụng, Luật Kiểm toán các nước…), chuẩn mực kiểm toán quốc tế, chuẩn mực kiểm toán nội bộ, các quy định của ủy ban chứng khoán của nhiều quốc gia… đã sử dụng báo cáo COSO 1992 như một tiêu chuẩn về KSNB cho các đối tượng bắt buộc phải tuân thủ. COSO 1992 đóng vai trò như một bước khởi đầu làm nền tảng cho các doanh nghiệp khi xây dựng cơ chế KSNB.
Sau hơn 20 năm kể từ khi ban hành báo cáo COSO đầu tiên vào năm 1992, quá trình toàn cầu hóa với những thay đổi mạnh mẽ của môi trường kinh doanh và tốc độ phát triển của công nghệ thông tin… đã ảnh hưởng đáng kể tới cách thức tổ chức kinh doanh, nhận diện, đánh giá và ứng phó rủi ro của doanh nghiệp. Kiểm soát là: i. Phương thức mà các nhà quản lý sử dụng để đạt được mục tiêu đã đề ra.