chương 1: 1. Khải niệm bệnh nghề nghỉ và các yếu tô gây ra bệnh nghề nghiệp: 2. Phân biệt các khái niệm về liều lượng độc được sử dụng để đánh giá độc tính của chát độc; 3. Ý nghĩa của việc xây dựng mối quan hệ giữa liễu lượng - đáp ứng: 4.
Các con đường xâm nhập của chất độc vào cơ thẻ người lao động; 3. Các bệnh nghề nghiệp liên quan đến phổi như bệnh bụi phối silie, bệnh bụi phối amiăng, bệnh bụi phổi than, bệnh hen ph quan; 6. Các bệnh viêm da tiếp xúc kích thích và viêm da tiếp xúc dị ứng nghẻ nghiệp: 7. Bénh nhiễm độc các kim loai Hg, Pb, As, và Mn nghệ nghiệp; 8.
Các chất có khả năng gây ung thư nghệ nghiệp và cách phòng tránh.1 GIỚI THIỆU BỆNH NGHÈ NGHIỆP. Bệnh nghề nghiệp (occupational disease/illness) la tình trạng bệnh lý phát sinh do lao động hay do những điều kiện lao động có tác hại của nghề nghiệp gây nên, tác động đối với người lao động. Nói cách khác, bệnh nghề nghiệp phát sinh do tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp trong môi trường lao động. Các yếu tố tác hại nghề nghiệp (ocewpational risk factors) la những yếu tỐ trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và khả năng lao động, gây nên những rồi loạn bệnh lý hoặc các bệnh nghề nghiệp đối với những người tiếp xúc.
Các yếu tô tác hại nghề nghiệp bao gồm: a) Yếu tố vật lý và hóa học: +_ Điều kiện vi khí hậu Ømiczoclimare) trong môi trường lao động không phủ hợp: nhiệt độ. độ âm cao hoặc thấp, thoáng khí kém, cường độ bức xạ nhiệt quá mạnh: + _ Bức xạ điện từ, bite xa cao tin va siêu cao tần trong khoảng sóng vô tuyến, tia hồng ngoại, tia tử ngoại + _ Các chất phóng xạ và các tỉa phóng xạ như ø, B, y. + _ Tiếng ồn và rung động; *_ Áp suất cao hoặc áp suất thấp; «_ Bụi và các chất độc hại trong sản xuất. b) Yéu té sinh ho + Vi khuan va siéu vi khuan gay bệnh; + Ky sinh tring va nim mốc gây bệnh; + Vinit gay bénh.
Dựa trên nhóm yếu tố tác hại nghề nghiệp gây bệnh, bệnh nghề nghiệp. được chia thành 5 nhóm sau: Nhóm 1: Gồm những bệnh sinh ra do tác hại của bụi trong môi trường lao động; ví du như bệnh bụi phổi do các bụi vô cơ. bệnh dị ứng đường hô hấp do các bụi hữu cơ. p lực cao, rung chuyé vỉ khí hậu xâu.
Nhóm 3: Gồm các bệnh sinh ra đo các tác nhân hóa học; ví dụ như các hóa chất độc ô nhiễm môi trường lao động, nhiễm độc thuốc trừ sâu, nhiễm độc kim loại nặng. _ Nhóm 4: Gồm các bệnh sinh ra các tác nhân sinh học; ví dụ như các nắm men, vi sinh vật gây bệnh gặp ở môi trường lao động của nông dân, những người lao công. Ahóm 5: Gồm các bệnh sinh ra do hiện tượng căng thẳng thần kinh cơ, xương, khớp, thường có liên quan với các loại lao động đặc biệt khi tiếp cận hoặc tác động lên một số bộ phận của cơ thể một cách không đông đều. Tóm lại bệnh nghề nghiệp mang tính chất đặc trưng của một nghề nào đó do các yêu tô độc hại trong nghề tác động thường xuyên lên cơ thê người lao động, gây nên những rối loạn bệnh lý cấp hoặc mãn tính.
Ví dụ bệnh bụi phổi silie gây ra bởi môi trường làm việc chứa nhiều bụi có hàm lượng silic tự do cao, hay tiếng ồn là nguyên nhân gây bệnh điếc nghề nghiệp.2 CÁC BỆNH NGHỀ NGHIỆP THƯỜNG 1.1 Độc chất học ố khái Dée chat hoc (toxicology) có thể được định nghĩa như là một ngành khoa học nghiên cứu về chất độc. Theo nghĩa rộng hơn, độc chất học là “ngành nghiên cứu liên quan đến sự phát hiện, biểu hiện, thuộc tính, ảnh hưởng và điều tiết các chất độc” (Roberts e/ ai. Độc chất học có. nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, trong đó /oxikón - chất độc, logos - khoa học.
Trong lĩnh vực môi trường, độc chất học môi trudng (environmental toxicology) nghiên cứu về sự vận chuyển của chất độc và các chất chuyển hóa của chúng trong môi trường sống, trong chuỗi thực phẩm và tác dụng độc của các chất này trên cá thẻ và trên quần thẻ. Các lĩnh vực nghiên cứu chính của độc chất học liên quan đến môi trường bao gồm: i, Doc chit hoe site khde moi trudng (Environmental health and toxicology): ngành nghiên cứu ảnh hưởng của độc chất môi trường lên sức khỏe con người: ii. Độc chất học sinh thá (Ecological toxicology): ngành nghiên cứu ảnh hưởng của độ c chất môi trường lên hệ sinh thái và các cầu thành của hệ sinh thái Chất dde (toxicant) là những chất vô cơ hay hữu cơ có nguồn gốc thiên nhiên hay do tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể và đạt đến nồng độ nhất có thể gây ngộ độc, phá hủy vài chức năng của cơ thẻ sóng, thậm chí gây từ vong cho cá thẻ đó, Thông thường chất độc xâm nhập vào cơ thẻ chủ yếu qua đường hô hấp, khi hít thở, hóa chất theo không khí vào mũi hoặc miệng, qua họng xuống khí quản, vào phỏi và lắng đọng tại phổi hoặc qua thành mạch máu vào máu. Tiếp xúc qua đường da, khi chất độc dính lên da sẽ xâm nhập vào cơ thê với tốc độ nhanh, đặc biệt là những vùng da hở.
Hay qua đường lêu hóa, chất độc thâm nhập vào cơ thẻ do ăn uống những thực phẩm bị nhiễm độc, bụi, hoặc hơi hóa chất trong không khí. Từ đây dẫn đến nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính, với độc tính mạnh thì trong thời gian ngắn sẽ gây triệu chứng, còn với độc tinh nhẹ sẽ là sự tích tụ dần dần (Hình 1. Poin | Đi vào cơ thể Tiêuhóa Quada — Húthở | Hấp thu qua máu và phân phối đến €ấc cơ Và cơ quan. ea I »% Gây độc.
Tích lủy |—[ Bài tết \ Đông hồn ta Hình 1. Đường đi và ảnh hướng của chất độc trong cơ thể Giới hạn giữa chất chủ yếu là dựa vào liều lượng (dose). Mọi chất đều độc ở một liều nào đó và cũng vô hại với liều rất thấp Liều lượng độc (toxic dose) là lượng chất độc cần có dé gay độc trên một đơn vị thể trọng (đơn vị là ng/kg, mg/kg hay g/kg thé trọng). Liễu lượng độc cảng.
nhỏ thì độc tính của chất độc càng lớn. Độc tính có thể có thẻ gây ra những tác động cục bộ (iocaf effects) như kích ứng da (skin irrifation), hoặc tác động chung (general effects) nhw cử động yếu (impaired coordination), thay đôi hành vi (behavioral changes), thay đôi cu trúc hệ cơ quan (organ structure changes) hoặc tử vong (dearb). Độc tính của một hóa chất độc có liên quan đến số. long (amount), hoac liều lượng (dose), đưa vào cơ thẻ sinh vật.
Mối quan hệ giữa liều của một hợp chát và độc tính của nó là trung tâm trong độc tính học. Paracelsus (1493-1541), người đầu tiên đưa chất độc vào cơ sở khoa học, đã nhận ra rõ rằng mối quan hệ này. Câu nói nỗi tiếng của ông “tất cả mọi chất đều là chất độc, không có chất nào không phải là chất độc. Liễu lượng thích hợp sẽ phân biệt được một chất độc và một thuốc”.
Do đó, lượng độc chat mà một người tiếp xúc là rất quan trọng trong. việc xác định mức độ độc tính sẽ xảy ra. Trong các thử nghiệm độc tính, rất nhiều liều lượng của cùng một loại hóa chất được sử dụng và các hiệu ứng. được kiểm tra bằng cách vẽ kết quả trên các đường cong liều lượng - đáp response curves).
Phản ứng của các sinh vật sống với cùng một loại hóa chất khác nhau tùy theo các yếu tố như chủng (sfrains), loài (species), tuôi (age), giới tính (sex), và tình trạng dinh dưỡng (nutritional status).2 cho thấy mối quan hệ giữa liều lượng - đáp img (Dose-response relationship) cua hai loài chuột khác nhau cho cùng một hóa chất. chuột nhất 5 50 200 800 4000 400,000 Liễu lượng (mgfkg) Hình 1.2 Mối quan hệ giữa liều lượng - đáp ứng của chuột công. ‘va chugt nhat cho cing mét héa chat (Streffer et al., 2013) Một số khái niệm về liễu lượng độc được sử dụng để đánh giá độc tính của chất độc: = EDS0 (Effective Dose): có tác dụng với 50% động vật thí nghiệm. =_ Liều tối da khong gay déc (HNTP- Highest Nontoxic Dose): la liga lượng lớn nhất của thuốc hoặc chất độc không gây những biến đồi bệnh lý cho cơ thê.
= Lidu thấp nhất có thể gây độc (TDL - Toxic Dose Low): Khi cho gấp đôi liều này sẽ không gây chết động vật. =_ Liều gây độc (TDH- Toxic Dose Hieh): là liều lượng sẽ tạo ra những biến đổi bệnh lý. Khi cho gap đôi liêu này sẽ gây chết động vật. + Lidu chét (LD- Lethal Dose): li liều lượng thấp nhất gây chết động vit thí nghiệm.
LD có các ỷ lệ khác nhaunhự: LDL- liều gây chết 1% động vật thí nghiệm; LDso: li 50% động vật thí nghiệm; LDio: liều gây chết 100% động vật thí nghiệm. * Nongđộ gay chét (LC- Lethal Concentration): là nồng độ thấp nhất gây chết động vật thí nghiệm. Tương tự như LD, LC cũng có lệ khác nhau như: LC¡- nồng độ gây chết 1% động vật thí nghiệm; LCso: nông độ gây chết 50% động vật thí nghiệm; LCiœ: nông độ gây chết 100% động vật thí nghiệm. LCsø thường được sử dụng trong việc so sánh các độc tính, LCsu ng.
nhỏ, độc tính của hóa chất cảng lớn. giá trị LCso không thể ngoại suy trực p từ một loài này cho một loài khác hoặc cho con người. Để xác định ngưỡng độc cắp tính, một phương pháp thử nghiệm thông dụng là xây dựng một thí nghiệm đẻ tim ra mi quan hệ giữa nông độ hay liều lượng chất thử và phần trăm cá thẻ bị ngộ độc từ đó xây dựng đường cong nồng độ hay liều lượng gây chết. Từ đường cong này, LCso hay LDs được quan sát, tính toán hay nội suy.
Sự đo lường độc tính rất phức tạp, Độc tính biến động từ cơ quan này đến cơ quan khác, biến động theo lứa tuổi, di truyền, giới tính, tỉnh trang sức khỏe của sinh vat, Tùy thuộc vào thời gian (period) và tần suat (frequency) tiếp xúc/phơi nhiễm với chất độc, độc tính có thể cấp thời (độc tính ó thể lâu dài (độc tính mãn tính). Nói cách khác, tác dụng độc hại độc có thê là cấp tính hoặc mãn tính tùy thuộc vào thời gian và tần suất tiếp xúc với chất độc. Độc tính cấp (acwe toxicity) được định nghĩa là độc tính diễn ra trong thời gian phơi nhiễm ngắn (24 giờ hoặc ít hơn), nhưng. thường xuyên.