Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Amiăng (asbestos) là tập hợp gồm sáu loại sợi khoáng silicat tự nhiên của calci và magnesi, chứa silic dioxide ($SiO_2$). Nhờ các đặc tính vật lý và cơ học vượt trội như tính đàn hồi, độ bền kéo, chịu nhiệt, cách điện, chống cháy, chống ăn mòn và chi phí thấp, amiăng đã được đưa vào ứng dụng công nghiệp quy mô lớn từ giữa thế kỷ XIX. Trong các nhóm amiăng, amiăng nâu (Amosite) và amiăng xanh (Crocidolite) thuộc nhóm Amphibole có cấu trúc dạng kim thẳng sắc nhọn, đã bị cấm hoàn toàn tại nhiều quốc gia và tại Việt Nam do bằng chứng rõ ràng về nguy cơ gây ung thư màng phổi và ung thư trung biểu mô. Ngược lại, amiăng trắng (Chrysotile) thuộc nhóm Serpentine có dạng sợi xoắn rỗng, hiện vẫn được khai thác và ứng dụng chủ yếu trong ngành sản xuất tấm lợp amiăng – xi măng (tấm fibro xi măng hay tấm lợp AC).
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) đã đưa ra các khuyến cáo cảnh báo mọi loại sợi amiăng đều có khả năng gây ung thư phổi và ung thư trung biểu mô. Tại Việt Nam, Quyết định số 1469/QĐ-TTg ngày 22/08/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã chỉ đạo không đầu tư mới hoặc mở rộng các cơ sở sử dụng amiăng trắng, đồng thời xây dựng lộ trình giảm dần tiến tới chấm dứt sử dụng loại sợi này trong sản xuất vật liệu lợp. Tuy nhiên, các nghiên cứu dịch tễ học và lâm sàng thực tế tại Việt Nam trên đối tượng công nhân tiếp xúc trực tiếp vẫn chưa ghi nhận mối liên quan rõ ràng giữa amiăng trắng và các tổn thương ác tính màng phổi. Nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về điều kiện làm việc và tình trạng sức khỏe của người lao động trong ngành này, tác giả Trịnh Hữu Chín đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa với hai mục tiêu cụ thể:
- Mô tả thực trạng môi trường lao động tại Công ty cổ phần Đầu tư, Xây lắp và Vật liệu xây dựng Đông Anh, Hà Nội, năm 2021.
- Mô tả tình hình sức khỏe của công nhân tại Công ty cổ phần Đầu tư, Xây lắp và Vật liệu xây dựng Đông Anh, Hà Nội, năm 2021.
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ 428 công nhân đang làm việc theo hợp đồng lao động tại Công ty cổ phần Đầu tư, Xây lắp và Vật liệu xây dựng Đông Anh (DOMATCO, thuộc Tổng Công ty LICOGI – Bộ Xây dựng). Phạm vi không gian của nghiên cứu bao gồm 4 cơ sở chi nhánh sản xuất trực thuộc công ty: Đông Anh (Hà Nội), Hưng Yên, Hòa Bình và Đoan Hùng (Phú Thọ). Thời gian triển khai nghiên cứu được tiến hành từ tháng 07/2021 đến tháng 02/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của nghiên cứu dựa trên các nguyên lý y học lao động và bệnh học nghề nghiệp về tác động của bụi khoáng amiăng lên cơ thể người. Khi hít phải, sợi amiăng di chuyển vào đường dẫn khí sâu và phế nang; các sợi ngắn dưới $5,\mu m$ dễ bị đại thực bào phế nang thực bào và đào thải, trong khi các sợi dài trên $10,\mu m$ chỉ bị thực bào một phần, gây tổn thương màng tế bào, kích hoạt phản ứng viêm kẽ mạn tính kéo dài, dẫn đến xơ hóa nhu mô phổi (bệnh bụi phổi amiăng - asbestosis) hoặc tổn thương màng phổi (mảng màng phổi, vôi hóa màng phổi, dày dính màng phổi).
Về cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn chuyên ngành, đề tài áp dụng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Bộ Y tế:
- Tiêu chuẩn vệ sinh lao động theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ Y tế.
- QCVN 26:2016/BYT về vi khí hậu giá trị cho phép tại nơi làm việc (nhiệt độ $18 - 32^\circ C$, độ ẩm $40 - 80%$, tốc độ gió $0,2 - 1,5,m/s$).
- QCVN 22:2016/BYT về chiếu sáng mức cho phép tại nơi làm việc ($200 - 10.000,\text{Lux}$).
- QCVN 24:2016/BYT về tiếng ồn mức tiếp xúc cho phép tại nơi làm việc ($\le 85,\text{dBA}$).
- QCVN 02:2019/BYT về bụi giá trị giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp (bụi toàn phần TWA $\le 8,0,\text{mg/m}^3$; bụi hô hấp TWA $\le 0,4,\text{mg/m}^3$; bụi sợi amiăng Serpentine TWA $\le 0,1,\text{sợi/ml}$).
- Thông tư số 14/2013/TT-BYT và Quyết định số 1613/BYT-QĐ ngày 15/8/1997 về phân loại sức khỏe người lao động (loại I đến V).
- Thông tư số 12/2006/TT-BYT và Thông tư số 28/2016/TT-BYT về hướng dẫn quản lý và chẩn đoán bệnh nghề nghiệp.
- TCVN 9188:2012 quy định yêu cầu kỹ thuật đối với sợi amiăng trắng dùng trong sản xuất tấm lợp amiăng - xi măng.
Phương pháp nghiên cứu thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang (cross-sectional study). Cỡ mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ gồm 428 công nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn (có hợp đồng lao động, trực tiếp tham gia sản xuất và đồng ý tham gia nghiên cứu) và tiêu chuẩn loại trừ (không mắc bệnh tâm thần phân liệt, không có rối loạn tâm lý hoặc mất khả năng giao tiếp). Đối tượng nghiên cứu được phân loại thành 3 nhóm vị trí việc làm theo mức độ nguy cơ phơi nhiễm amiăng:
- Nhóm I (nguy cơ thấp, $n = 116$): Nhân viên hành chính, nhân viên nhà bếp, bảo vệ.
- Nhóm II (nguy cơ trung bình, $n = 168$): Công nhân bốc xếp, tổ môi trường, thợ cơ khí, quản đốc, thủ kho.
- Nhóm III (nguy cơ cao, $n = 144$): Công nhân trực tiếp đứng máy cán khuôn, úp nóc, lái lò cẩu, vận hành cối nghiền, trộn phối liệu, xé bao bì và đổ amiăng.
Quy trình thu thập thông tin và giám sát sức khỏe được phối hợp giữa Đại học Y Dược – ĐHQGHN và Bệnh viện Xây dựng:
- Khảo sát thực địa môi trường lao động: Đo đạc vi khí hậu, chiếu sáng, tiếng ồn dải tần và ồn chung bằng thiết bị chuyên dụng. Nồng độ bụi toàn phần được xác định bằng bơm hút Bruck Libra Plus L-20 (lưu lượng $18,\text{lít/phút}$) qua màng lọc có kích thước hạt $< 50,\mu m$. Nồng độ bụi hô hấp được lấy bằng bơm Bruck Basic 5 gắn đầu cyclone tách dòng (lưu lượng $2,\text{lít/phút}$) thu giữ hạt $< 5,\mu m$. Nồng độ sợi amiăng được thu mẫu bằng bơm Bruck Basic 5 với màng lọc ester cellulose/cellulose nitrat (lỗ lọc $0,8 - 1,2,\mu m$), sau đó xử lý tiêu bản bằng hơi aceton và triacetin, đếm mật độ sợi trên kính hiển vi quang học tương phản pha.
- Giám sát sức khỏe lâm sàng và cận lâm sàng: Khám lâm sàng toàn diện đa chuyên khoa (nội, ngoại, mắt, tai mũi họng, răng hàm mặt), siêu âm ổ bụng tổng quát. Khám chuyên sâu bệnh nghề nghiệp bao gồm chụp X-quang phổi chuẩn theo tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh nghề nghiệp (máy chụp cao tần công suất $> 200,\text{mA}$, thời gian chụp $< 0,1,\text{giây}$, sử dụng phim Kodak kích thước $35 \times 35,\text{cm}$ hoặc $30 \times 40,\text{cm}$); chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc (CT-Scanner) 64 dãy đầu thu VCT Light Speed (GE, Mỹ) cho các trường hợp có nghi ngờ tổn thương; đo chức năng thông khí (CNTK) phổi bằng máy PC10 (Hãng Chest, Nhật Bản) có hiệu chỉnh theo hằng số nhân trắc học người châu Á. Toàn bộ hồ sơ bệnh án được thông qua Hội đồng hội chẩn bệnh nghề nghiệp.
- Xử lý số liệu: Nhập liệu bằng phần mềm Excel 2016 và xử lý thống kê bằng phần mềm Stata 16.0. Sử dụng thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, số trung bình, độ lệch chuẩn, trung vị, khoảng tứ phân vị) và thống kê suy luận (kiểm định $\chi^2$, Fisher's exact test, tính tỷ số chênh Odds Ratio - OR với khoảng tin cậy $95%$), ngưỡng ý nghĩa thống kê xác định tại mức $p < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương này trình bày chi tiết về cấu trúc tinh thể, tính chất lý hóa của các nhóm sợi khoáng amiăng. Amiăng trắng ($Mg_3(Si_2O_5)(OH)_4$) có cấu trúc sợi dạng ống hình trụ xốp mềm, khối lượng riêng $2,2 - 3,4,\text{g/cm}^3$, nhiệt độ nóng chảy $1530^\circ C$, bền với môi trường kiềm nhưng bị phân hủy trong acid. Trong các tấm lợp fibro xi măng sản xuất theo công nghệ Hatschek (công nghệ ướt), amiăng trắng chiếm từ $8 - 10%$ tổng khối lượng sản phẩm, có chức năng tạo khung xương gia cường cơ học.
Tác giả thống kê sản lượng khai thác amiăng toàn cầu suy giảm từ $5,3$ triệu tấn (năm 1979) xuống còn khoảng $2$ triệu tấn (năm 2012); các nước sản xuất chính năm 2015 gồm Nga ($1,1$ triệu tấn), Trung Quốc ($0,4$ triệu tấn), Brazil ($0,31$ triệu tấn) và Kazakhstan ($0,22$ triệu tấn). Đến năm 2013, hơn 50 quốc gia đã ban hành lệnh cấm sử dụng hoàn toàn amiăng. Tại Việt Nam, giai đoạn 2000 - 2010 lượng tiêu thụ đạt khoảng $60.000$ tấn/năm; năm 2021 lượng amiăng nguyên liệu nhập khẩu từ Nga chiếm $96,74%$, Trung Quốc chiếm $2,48%$. Sản lượng tấm lợp AC trong nước năm 2021 đạt $42,87$ triệu $m^2$, tiêu thụ đạt $41,08$ triệu $m^2$, sụt giảm so với năm 2020 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và giãn cách xã hội.
Tổng quan y văn chỉ ra các tổn thương điển hình của phơi nhiễm amiăng gồm: bệnh bụi phổi amiăng, tổn thương màng phổi (dày dính, mảng màng phổi, vôi hóa màng phổi thường xuất hiện sau 20 năm tiếp xúc) và ung thư trung biểu mô màng phổi. Tác giả cũng phân tích các bằng chứng dịch tễ học trong nước và quốc tế chưa ghi nhận tác động ác tính rõ rệt của amiăng trắng đơn thuần: nghiên cứu của Somchai Bovornkitti tại Thái Lan trên 57 ca ung thư trung biểu mô; nghiên cứu của Ericson Bagatin tại Brazil trên 6.000 người sống dưới mái lợp fibro xi măng; nghiên cứu của Bộ Y tế Việt Nam (2010 - 2011) tại 6 bệnh viện ghi nhận 46 ca ung thư trung biểu mô nhưng không có trường hợp nào có tiền sử tiếp xúc nghề nghiệp với amiăng; và nghiên cứu của Bệnh viện Xây dựng (2014 - 2016) trên 2.459 công nhân tại 32 cơ sở sản xuất tấm lợp AC không phát hiện tổn thương bụi phổi hay bệnh lý ác tính liên quan đến amiăng.
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn thực hiện tại Công ty Cổ phần Đầu tư, Xây lắp và Vật liệu xây dựng Đông Anh (thành lập từ năm 1980, tiền thân là Xí nghiệp cung ứng vật tư vận tải thuộc Bộ Xây dựng). Tác giả mô tả sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất tấm lợp AC khép kín ướt qua các công đoạn:
- Tiếp nhận và lưu trữ sợi amiăng tại kho nguyên liệu.
- Cối nghiền đập tơi sợi amiăng trong hệ thống kín.
- Phối trộn nguyên liệu: amiăng, xi măng và nước được nạp vào máy trộn phối liệu và bể khuấy.
- Xeo cán tấm: huyền phù amiăng - xi măng qua hệ thống máy xeo tạo màng và quấn lớp.
- Cắt tấm và tạo sóng: định hình kích thước tấm lợp.
- Dỡ tấm, dưỡng hộ và nắn khuôn: sản phẩm được dưỡng hộ thủy nhiệt trước khi nhập bãi thành phẩm.
Chương này cũng chuẩn hóa toàn bộ các tiêu chí lâm sàng, bảng câu hỏi điều tra phỏng vấn trực tiếp, quy trình lấy mẫu đo đạc môi trường độc hại thực địa, quy trình hiệu chuẩn máy đo chức năng thông khí PC10, thông số kỹ thuật của hệ thống chụp CT-Scanner 64 dãy, công tác kiểm soát sai số và cam kết y đức trong nghiên cứu y học lao động.
Chương 3. Thực trạng môi trường lao động tại các cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng – xi măng của Công ty cổ phần Đầu tư, Xây lắp và Vật liệu xây dựng Đông Anh
Kết quả quan trắc môi trường lao động được tổng hợp từ 109 mẫu đo đạc thực địa tại các dây chuyền sản xuất:
| Yếu tố quan trắc |
Tổng số mẫu |
Số mẫu đạt TCCP |
Số mẫu vượt TCCP |
Tỷ lệ đạt (%) |
| Vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió) |
14 |
14 |
0 |
100% |
| Bức xạ nhiệt (nhiệt độ cầu ướt WBGT) |
4 |
4 |
0 |
100% |
| Chiếu sáng |
13 |
13 |
0 |
100% |
| Tiếng ồn chung ($\le 85,\text{dBA}$) |
14 |
6 |
8 |
42,9% |
| Tiếng ồn dải tần |
9 |
9 |
0 |
100% |
| Bụi toàn phần ($\le 8,0,\text{mg/m}^3$) |
14 |
14 |
0 |
100% |
| Bụi hô hấp ($\le 0,4,\text{mg/m}^3$) |
5 |
2 |
3 |
40,0% |
| Bụi sợi amiăng Serpentine ($\le 0,1,\text{sợi/ml}$) |
8 |
8 |
0 |
100% |
| Tổng cộng |
109 |
98 |
11 |
89,9% |
Chi tiết các yếu tố môi trường lao động cho thấy:
- Vi khí hậu và ánh sáng: Nhiệt độ dao động từ $29,0 - 30,2^\circ C$; độ ẩm tương đối từ $63 - 70%$; tốc độ gió từ $0,2 - 0,4,m/s$; cường độ chiếu sáng đạt từ $310 - 2.800,\text{Lux}$. Tất cả đều đạt tiêu chuẩn cho phép.
- Tiếng ồn: Có 8/14 vị trí đo ồn chung vượt giới hạn $85,\text{dBA}$ (dao động từ $86 - 91,\text{dBA}$), tập trung tại khu vực máy trộn nguyên liệu, máy xeo cán, máy cắt tấm tạo sóng, máy nắn khuôn và dỡ tấm ở cả hai dây chuyền sản xuất 1 và 2.
- Nồng độ bụi: Bụi toàn phần dao động từ $0,6 - 1,1,\text{mg/m}^3$ (thấp hơn nhiều so với giới hạn $8,0,\text{mg/m}^3$). Nồng độ bụi hô hấp có 3/5 mẫu vượt ngưỡng ($0,5 - 0,6,\text{mg/m}^3$) tại khu vực xả amiăng vào máy trộn, khu vực máy trộn và khu vực máy xeo cán. Nồng độ bụi sợi amiăng trắng dao động từ mức không phát hiện đến $0,07,\text{sợi/ml}$ (trung bình rất thấp), điểm cao nhất ghi nhận tại khu vực máy nghiền amiăng ($0,07,\text{sợi/ml}$), $100%$ mẫu nằm trong giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp cho phép ($< 0,1,\text{sợi/ml}$).
Đặc điểm nhân khẩu học và phân loại phơi nhiễm của 428 công nhân:
- Độ tuổi: Trung bình $44,24 \pm 7,97$ tuổi (thấp nhất 24, cao nhất 61; trung vị 45, khoảng tứ phân vị $39 - 50$). Nhóm tuổi từ 41 - 50 chiếm tỷ lệ cao nhất ($45,1%$), nhóm công nhân trẻ $\le 30$ tuổi chỉ chiếm $4,2%$.
- Giới tính: Nam giới chiếm $65,7%$ (281 người), nữ giới chiếm $34,3%$ (147 người). Tỷ lệ nam/nữ tăng dần theo nhóm nguy cơ tiếp xúc: Nhóm I xấp xỉ 1/1; Nhóm II là 2/1; Nhóm III lên tới 4/1.
- Tuổi nghề tại nhóm nguy cơ cao ($n = 144$): Tuổi nghề trung bình đạt $19,38 \pm 8,92$ năm; trong đó công nhân có thâm niên trên 20 năm tiếp xúc chiếm tới $50,0%$ (72 người); từ 11 - 20 năm chiếm $29,2%$; từ 5 - 10 năm chiếm $13,9%$; dưới 5 năm chỉ chiếm $6,9%$.
- Phân bố theo cơ sở: Cơ sở Đông Anh tập trung đông lao động nhất với 258 người ($60,3%$), Hưng Yên có 65 người ($15,2%$), Hòa Bình có 62 người ($14,5%$) và Đoan Hùng có 43 người ($10,0%$).
Biến đổi chức năng thông khí (CNTK) phổi ở nhóm nguy cơ cao ($n = 144$):
- Ghi nhận 20 trường hợp có biến đổi CNTK phổi, chiếm tỷ lệ $13,9%$; toàn bộ là hội chứng hạn chế (19 trường hợp rối loạn thông khí hạn chế mức độ nhẹ, 1 trường hợp hạn chế mức độ vừa; không ghi nhận hội chứng tắc nghẽn hay rối loạn hỗn hợp).
- Tỷ lệ biến đổi CNTK ở nam giới là $14,3%$ (17/119), ở nữ giới là $12,0%$ (3/25), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ($p = 1$).
- Tỷ lệ biến đổi CNTK tăng dần theo tuổi đời: nhóm $31 - 40$ tuổi là $10,7%$, nhóm $41 - 50$ tuổi là $12,3%$, nhóm $> 50$ tuổi là $20,0%$ ($p = 0,117$).
- Không có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê giữa tiền sử mắc bệnh đường hô hấp trên mạn tính và biến đổi CNTK phổi ($OR = 0,56$; khoảng tin cậy $95%: 0,179 - 1,976$; $p = 0,3713$).
Mô hình bệnh tật và phân loại sức khỏe:
- Bệnh thường gặp: Bệnh lý viêm xoang, viêm mũi họng, thanh quản mạn tính chiếm tỷ lệ cao nhất ($71,0%$, 304/428); bệnh răng hàm mặt chiếm $56,8%$ (243/428); các bệnh về mắt (tật khúc xạ, mộng mắt, sạn vôi kết mạc) chiếm $55,1%$ (236/428); bệnh lý phụ khoa ở lao động nữ chiếm $36,1%$ (53/147); bệnh nội tiết (nang/nhân tuyến giáp, đái tháo đường) chiếm $31,3%$; bệnh gan mật chiếm $26,2%$; tăng huyết áp chiếm $13,3%$.
- Đánh giá tổn thương đặc hiệu: Hội đồng chuyên môn không phát hiện bất kỳ trường hợp nào mắc bệnh ung thư phổi, ung thư trung biểu mô màng phổi hoặc bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp.
- Phân loại sức khỏe toàn công ty ($n = 428$): Sức khỏe loại I chiếm $3,7%$ (16 người); loại II chiếm $45,1%$ (193 người); loại III chiếm $45,3%$ (194 người); loại IV chiếm $5,4%$ (23 người); loại V chiếm $0,5%$ (2 người). Ở nhóm nam giới, sức khỏe loại II chiếm ưu thế ($49,5%$), trong khi ở nữ giới sức khỏe loại III chiếm tỷ lệ cao nhất ($57,8%$) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$). Phân loại sức khỏe giảm sút rõ rệt theo độ tuổi lao động ($p < 0,05$).
Chương 4. Bàn luận
Tác giả phân tích và đối chiếu kết quả nghiên cứu với các công trình trước đây. Về môi trường làm việc, việc $100%$ các mẫu đo vi khí hậu và ánh sáng đạt quy chuẩn phản ánh điều kiện nhà xưởng được thông gió tự nhiên tốt và bố trí cửa chiếu sáng hợp lý. Việc nồng độ sợi amiăng trắng trong không khí đạt ngưỡng rất thấp ($\le 0,07,\text{sợi/ml}$) so với quy chuẩn $0,1,\text{sợi/ml}$ được giải thích do doanh nghiệp đã đầu tư công nghệ nghiền trộn khép kín, ứng dụng hệ thống hút lọc cyclone thu hồi bụi triệt để. Tuy nhiên, tình trạng tiếng ồn vượt chuẩn tại các máy dập, cắt, dỡ tấm và nồng độ bụi hô hấp vượt ngưỡng ($0,5 - 0,6,\text{mg/m}^3$) tại các vị trí xả amiăng và máy xeo đòi hỏi doanh nghiệp phải cải tiến cách âm cục bộ và bổ sung giải pháp dập bụi ướt.
Về tình hình sức khỏe, lực lượng lao động tại nhà máy đang đối mặt với xu hướng già hóa (tuổi trung bình trên 44 tuổi, $50%$ công nhân nhóm nguy cơ cao có tuổi nghề trên 20 năm). Tỷ lệ biến đổi chức năng thông khí $13,9%$ (chủ yếu là hạn chế nhẹ) ở nhóm phơi nhiễm trực tiếp tương đương với số liệu nghiên cứu của Lê Thị Hằng năm 2017 trên 36 cơ sở sản xuất tấm lợp toàn quốc. Tỷ lệ mắc các bệnh tai mũi họng mạn tính ở mức cao ($71,0%$) được luận giải do tác động tổng hợp của khí hậu nhiệt đới gió mùa, thói quen hút thuốc lá/thuốc lào của công nhân nam, kết hợp bối cảnh dịch bệnh Covid-19 đang lây lan phức tạp tại thời điểm thu thập số liệu năm 2021. Điểm cốt lõi được tác giả khẳng định là kết quả khám sức khỏe chuyên sâu và hội chẩn hình ảnh học không ghi nhận trường hợp nào mắc bệnh bụi phổi amiăng hay ung thư phế quản - phổi, củng cố thêm các phát hiện hồi cứu trước đó của Nguyễn Bá Toại (2004) và hồ sơ theo dõi quốc gia về amiăng.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về thực trạng môi trường và sức khỏe công nhân:
| Nhóm chỉ tiêu |
Kết quả định lượng then chốt |
Ghi chú so sánh quy chuẩn / y văn |
| Môi trường lao động |
$89,9%$ mẫu quan trắc đạt tiêu chuẩn vệ sinh ($98/109$ mẫu) |
Đạt chuẩn: $100%$ mẫu vi khí hậu, chiếu sáng, bụi toàn phần, bụi sợi amiăng |
| Tiếng ồn chung |
8/14 mẫu vượt quy chuẩn ($86 - 91,\text{dBA}$) |
Vượt ngưỡng QCVN 24:2016/BYT ($\le 85,\text{dBA}$) tại các khâu trộn, xeo, cắt, dỡ |
| Bụi hô hấp |
3/5 mẫu vượt quy chuẩn ($0,5 - 0,6,\text{mg/m}^3$) |
Vượt ngưỡng QCVN 02:2019/BYT ($\le 0,4,\text{mg/m}^3$) tại khâu xả, trộn, xeo |
| Bụi sợi amiăng |
$100%$ mẫu đạt chuẩn; nồng độ cao nhất $0,07,\text{sợi/ml}$ |
Đạt QCVN 02:2019/BYT ($\le 0,1,\text{sợi/ml}$); trung bình thấp hơn các nghiên cứu cũ |
| Biến đổi CNTK phổi |
$13,9%$ công nhân nhóm nguy cơ cao ($20/144$ ca) |
$100%$ là rối loạn thông khí hạn chế (19 nhẹ, 1 vừa); không có tắc nghẽn |
| Bệnh nghề nghiệp ác tính |
0 trường hợp ung thư phổi, trung biểu mô, bụi phổi |
Thống nhất với nghiên cứu hồi cứu của Lê Thị Hằng và Nguyễn Bá Toại |
| Phân loại sức khỏe |
Loại II: $45,1%$; Loại III: $45,3%$; Loại IV-V: $5,9%$ |
Đa số đạt sức khỏe trung bình - khá ($90,4%$ thuộc loại II và III) |
Từ các phát hiện trên, tác giả đề xuất các giải pháp kỹ thuật và y tế:
- Doanh nghiệp cần tăng cường các biện pháp kỹ thuật giảm thiểu tiếng ồn tại khu vực máy trộn, máy xeo cán và máy cắt dỡ tấm (bọc cách âm, bảo dưỡng định kỳ các cụm chi tiết cơ khí truyền động).
- Bổ sung chụp hút cục bộ hoặc hệ thống phun ẩm sương dập bụi hô hấp tại vị trí xả bao amiăng vào phễu nạp liệu máy trộn.
- Bắt buộc người lao động tại dây chuyền nóng và bụi sử dụng đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân đạt chuẩn (khẩu trang lọc bụi hô hấp, nút tai chống ồn).
- Duy trì định kỳ khám phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp, đo chức năng thông khí phổi hàng năm cho nhóm công nhân có thâm niên nghề nghiệp cao.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện, cập nhật tại năm 2021 về môi trường sản xuất tấm lợp amiăng trắng tại doanh nghiệp quy mô lớn thuộc Bộ Xây dựng. Kết quả chỉ ra rằng khi dây chuyền công nghệ được tự động hóa và khép kín quy trình nghiền trộn, nồng độ sợi amiăng trong không khí được kiểm soát an toàn dưới ngưỡng cho phép, đồng thời xác nhận chưa ghi nhận tổn thương ác tính màng phổi trên nhóm công nhân có thời gian tiếp xúc nghề nghiệp kéo dài trên 20 năm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được tác giả tự xác định tồn tại một số hạn chế nội tại:
- Thông tin về thời gian tiếp xúc và tuổi nghề tích lũy của người lao động được thu thập dựa trên phương pháp phỏng vấn và công nhân tự khai báo, do đó có thể chịu ảnh hưởng nhất định bởi sai số nhớ lại (recall bias).
- Nghiên cứu chỉ được thực hiện trên 4 cơ sở sản xuất trực thuộc Công ty cổ phần Đầu tư, Xây lắp và Vật liệu xây dựng Đông Anh, vì vậy số liệu chỉ mang tính đại diện cho đơn vị nghiên cứu, chưa thể ngoại suy đại diện cho toàn bộ các nhà máy sản xuất tấm lợp fibro xi măng trên phạm vi toàn quốc.
- Thời gian nghiên cứu diễn ra trong giai đoạn dịch Covid-19 bùng phát, có thể ảnh hưởng gián tiếp đến tần suất mắc và báo cáo các triệu chứng đường hô hấp trên mạn tính của công nhân.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần triển khai các nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc (longitudinal cohort study) dài hạn, kết hợp lấy mẫu đo liều lượng phơi nhiễm bụi amiăng cá nhân liên tục trong ca làm việc, đồng thời mở rộng việc theo dõi hồ sơ sức khỏe và chụp cắt lớp vi tính lồng ngực định kỳ cho cả những công nhân đã nghỉ chế độ hưu trí có tiền sử phơi nhiễm lâu năm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên sau đại học chuyên ngành Y đa khoa, Y học lao động, Vệ sinh môi trường và Y tế công cộng đang thực hiện các nghiên cứu về đánh giá rủi ro nghề nghiệp và bệnh học hô hấp. Đề tài cũng có giá trị ứng dụng cao đối với các kỹ sư an toàn vệ sinh lao động, cán bộ quản lý doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và cơ quan quản lý nhà nước về chính sách môi trường lao động.
Nội dung đáng chú ý để tham khảo bao gồm:
- Quy trình chuẩn hóa đo đạc và đếm nồng độ bụi sợi amiăng bằng phương pháp màng lọc kết hợp kính hiển vi quang học tương phản pha theo quy chuẩn của Bộ Y tế.
- Bộ chỉ số giám sát sức khỏe lâm sàng và cận lâm sàng tích hợp đánh giá chức năng thông khí phổi theo tiêu chuẩn nhân trắc người Việt Nam.
- Phương pháp phân tầng nguy cơ tiếp xúc nghề nghiệp và ma trận tổng hợp đánh giá các yếu tố vật lý, vi khí hậu trong dây chuyền sản xuất công nghiệp nặng.
Câu hỏi thường gặp
1. Nồng độ bụi sợi amiăng trắng thực tế đo được tại các vị trí sản xuất của công ty là bao nhiêu và có vượt tiêu chuẩn cho phép không?
Nồng độ sợi amiăng trắng đo được tại 8 vị trí sản xuất dao động từ mức không phát hiện đến tối đa là $0,07,\text{sợi/ml}$ (ghi nhận tại khu vực máy nghiền amiăng), nồng độ trung bình rất thấp. Toàn bộ $100%$ mẫu đo đều đạt quy chuẩn tiếp xúc nghề nghiệp cho phép theo QCVN 02:2019/BYT ($\le 0,1,\text{sợi/ml}$).
2. Tỷ lệ công nhân bị biến đổi chức năng thông khí phổi ở nhóm nguy cơ cao là bao nhiêu và thuộc dạng rối loạn nào?
Trong 144 công nhân thuộc nhóm nguy cơ cao, có 20 trường hợp biến đổi chức năng thông khí phổi, chiếm tỷ lệ $13,9%$. Tất cả các trường hợp này đều thuộc dạng rối loạn thông khí hạn chế (gồm 19 trường hợp mức độ nhẹ và 1 trường hợp mức độ vừa), không ghi nhận rối loạn thông khí dạng tắc nghẽn hay dạng hỗn hợp.
3. Nghiên cứu có phát hiện trường hợp nào mắc bệnh ung thư phổi, ung thư trung biểu mô hoặc bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp không?
Kết quả khám toàn diện, chụp X-quang phổi chuẩn, chụp cắt lớp vi tính và thông qua Hội đồng hội chẩn bệnh nghề nghiệp trên toàn bộ 428 công nhân không phát hiện bất kỳ trường hợp nào mắc bệnh bụi phổi amiăng, ung thư phổi hay ung thư trung biểu mô màng phổi.
4. Những yếu tố môi trường lao động nào tại các xưởng sản xuất chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép?
Có hai yếu tố chưa đạt tiêu chuẩn: tiếng ồn chung với 8/14 mẫu vượt ngưỡng cho phép ($86 - 91,\text{dBA}$ so với tiêu chuẩn $\le 85,\text{dBA}$ theo QCVN 24:2016/BYT) tại các khu vực máy trộn, máy xeo, máy cắt tấm và nắn dỡ tấm; và bụi hô hấp với 3/5 mẫu vượt ngưỡng ($0,5 - 0,6,\text{mg/m}^3$ so với tiêu chuẩn $\le 0,4,\text{mg/m}^3$ theo QCVN 02:2019/BYT) tại khu vực xả amiăng, máy trộn và máy xeo cán.
5. Cơ cấu phân loại sức khỏe chung của toàn bộ công nhân trong công ty được phân bố như thế nào?
Trong tổng số 428 công nhân, đa số đạt sức khỏe loại II và loại III (chiếm $90,4%$, trong đó loại II là $45,1%$ và loại III là $45,3%$). Sức khỏe loại IV chiếm $5,4%$, sức khỏe loại I chiếm $3,7%$, và sức khỏe loại V chỉ chiếm $0,5%$. Tỷ lệ sức khỏe kém có xu hướng tăng dần rõ rệt ở nhóm lao động trên 40 tuổi và trên 50 tuổi.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Hữu Chín đã mô tả chi tiết thực trạng môi trường lao động và sức khỏe của 428 công nhân sản xuất tấm lợp amiăng – xi măng tại Công ty cổ phần Đầu tư, Xây lắp và Vật liệu xây dựng Đông Anh năm 2021. Kết quả quan trắc ghi nhận nồng độ sợi amiăng trắng đều nằm trong giới hạn cho phép ($< 0,1,\text{sợi/ml}$), tuy nhiên vẫn tồn tại vấn đề tiếng ồn chung và nồng độ bụi hô hấp cục bộ vượt quy chuẩn tại một số vị trí dây chuyền. Khảo sát y tế xác định đa số người lao động có sức khỏe loại II và III ($90,4%$), nhóm nguy cơ cao có $13,9%$ bị biến đổi chức năng thông khí hạn chế nhẹ đến vừa, và hoàn toàn chưa phát hiện trường hợp nào mắc bệnh bụi phổi amiăng hay tổn thương ác tính màng phổi dù phân nửa nhóm nguy cơ cao có thâm niên tiếp xúc trên 20 năm. Công trình cung cấp bằng chứng thực địa có giá trị khoa học phục vụ công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động và định hướng chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng.