Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về tiếng ồn và ảnh hưởng sức khỏe 1. Một số khái niệm Tiếng ồn là những âm thanh có cường độ và tần số khác nhau, được sắp xếp một cách tự nhiên, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, tiếng ồn gây cản trở con người làm việc và nghỉ ngơi hay là những âm thanh mà người ta không mong muốn[8]. Các đại lượng vật lý tham số chính của tiếng ồn: - Tần số: đơn vị đo của tần số là Hertz (Hz).
Tần số càng thấp âm càng trầm, tần số càng cao âm càng bổng. Tai con người có thể nghe được tần số 16Hz đến 20. - Cường độ (dB): Cường độ đặc trưng cho độ mạnh hay yếu của âm thanh. Cường độ càng lớn âm nghe càng rõ, cường độ nhỏ âm nghe càng bé.
Cường độ phụ thuộc vào mức áp âm, mức áp âm tối thiểu có thể nghe thấy (ngưỡng nghe) ở vùng tần số 1.10-5N/m2 hay 10-16Watt/cm2, mức áp âm gây cảm giác chói tai là 10-3Watt/cm2, hơn mức tối thiểu 1013đơn vị. Nhưng cảm giác to hay độ vang của âm không tăng tỷ lệ với áp suất âm mà theo quy luật hàm logarit (Theo quy định quốc tế lấy đơn vị độ ồn là Bell Graham, người đã phát minh ra điện thoại). Để so sánh độ vang của những âm khác nhau và để rút gọn thang đo người ta dựa vào một đại lượng gọi là mức áp âm L có đơn vị là Decibels (dB) được xác định theo công thức. 𝑃 𝑃 𝐿𝑑𝐵 = 10 𝐿𝑔 𝐵 = 10 𝐿𝑔 𝑃0 𝑃0 Trong đó: P là mức công suất âm thực tế; P0 là mức công suất âm tối thiểu có thể nghe thấy – ngưỡng nghe 10-6 Watt/cm2 ở 1.
Như vậy thang đo độ ồn có mức áp âm từ: 0 – 130dB. Mức áp âm nghe thấy L0 có giá trị bằng 0dB. Có những người tai thính có thể nghe thấy được áp âm - 5dB. Mức áp âm lớn 130dB gây cảm giác chói tai, trên 140dB thường gây thủng màng nhĩ tai[14].
Phương pháp và Quy chuẩn đánh giá tiếng ồn Phương pháp đo tiếng ồn thực hiện theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) TCVN -9799:2013[24]. Đánh giá tiếng ồn trong môi trường lao động theo Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) QCVN 24:2016/BYT[4]. Tác hại của tiếng ồn Trong cuộc sống tiếng ồn luôn luôn xuất hiện mọi nơi như trong giao thông, ngành dịch vụ thương mại, ngành xây dựng, ngành khai thác khoáng sản, ngành thủy sản, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp…tiếng ồn lớn có thể gây ra bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch, rối loạn giấc ngủ, căng thẳng thần kinh …ảnh hưởng đến đời sống của con người. Trong môi trường lao động tiếng ồn lớn, gây hại đến sức khỏe người lao động như: làm mệt mỏi, làm giảm khả năng trao đổi thông tin, làm giảm khả năng tập trung trong công việc dẫn đến suy giảm năng suất lao động, tăng nguy cơ gây tai nạn lao động và sau cùng là gây nên bệnh điếc nghề nghiệp cho người lao động[40].
Tác hại của tiếng ồn đối với con người phụ thuộc vào tần số và thời gian tiếp xúc. Cùng một mức áp âm chung, tiếng ồn có cường độ lớn hơn ở tần số cao thì nguy hiểm hơn là tiếng ồn có cường độ nhỏ hơn ở tần số cao. Tiếng ồn có cường độ cao vượt quá mức cho phép ở vùng tần số cao 2.000Hz và nhất là vùng tần số 4.000Hz là tiếng ồn nguy hiểm, tiếp xúc lâu dài với những tiếng ồn này khiến thính giác dễ bị tổn thương dẫn tới bệnh giảm thính lực. Thường là sau 6 tháng đến 5 năm làm việc trong môi trường có tiếng ồn cao, người lao động gặp phải triệu chứng giảm thính lực, đôi khi ở những người mẫn cảm (cơ địa của từng người) chỉ sau 3 tháng tiếp xúc với tiếng ồn cao đã có thể bị giảm thính lực [13, 26].
Giảm thính lực nghề nghiệp và điếc nghề nghiệp Giảm thính lực nghề nghiệp là giai đoạn đầu của bệnh điếc nghề nghiệp. Khi kết quả đo thính lực âm sơ bộ theo dẫn truyền hai tai của người bệnh, ở tần số 4000Hz mà ngưỡng nghe của đối tượng từ 50dB – 60dB, đối xứng hai tai, có khuyết hình chữ V thì gọi là giảm thính lực nghề nghiệp [6] 7 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh điếc nghề nghiệp Việc chẩn đoán xác định bệnh điếc nghề nghiệp căn cứ Thông tư 15/2016/TT-BYT ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế, chẩn đoán bệnh điếc nghề nghiệp được xác định bệnh cấp tính hoặc mạng tính. - Giới hạn tiếp xúc tối thiểu: Cấp tính: Giới hạn tiếp xúc tối thiểu xác định bằng một trong các tiêu chí sau: Cường độ tiếng ồn lớn hơn 140dBA; Biên bản xác nhận tiếp xúc với yếu tố có hại gây bệnh nghề nghiệp cấp tính theo quy định hiện hành.
Mạn tính: Tiếng ồn vượt quá giới hạn tiếp xúc cho phép theo quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành. - Thời gian tiếp xúc tối thiểu Cấp tính: 1 lần. Mạn tính: 4 năm tiếp xúc liên tục với tiếng ồn trên 85dBA trung bình 8 giờ làm việc/ngày. Cường độ tiếng ồn cứ tăng 3dBA thì thời gian tiếp xúc tối thiểu giảm một nửa.
- Thời gian bảo đảm - Điếc nghề nghiệp cấp tính: 2 ngày. - Điếc nghề nghiệp mạn tính: không quy định. - Chẩn đoán Điếc nghề nghiệp cấp tính: Đau, chảy máu tai; Chóng mặt, ù tai, nghe kém, điếc; Vị trí tổn thương: màng nhĩ, tai giữa, ốc tai; Tổn thương hai tai đồng đều hoặc không đồng đều: phụ thuộc hướng của nguồn ồn; Biểu đồ sức nghe: điếc tiếp nhận hoặc hỗn hợp. Điếc nghề nghiệp mạn tính: Ù tai, nghe kém, khó khăn khi trao đổi công việc.
Nếu ngừng tiếp xúc với tiếng ồn, sức nghe cũng không hồi phục nhưng cũng không tiến triển xấu hơn. Biểu đồ sức nghe: thể hiện một điếc tiếp âm, khuyết sức nghe ở tần số 3000Hz đến 6000Hz có đỉnh ở tần số 4000Hz, đối xứng 2 tai (đối xứng hoàn toàn hay không hoàn toàn), tùy theo mức độ bệnh mà có tổn thương thể loa đạo đáy hay toàn loa đạo. - Nghiệm pháp chẩn đoán Đo sức nghe đơn âm hoàn chỉnh (Pure Tone Audiometry); 8 Các nghiệm pháp khác (nếu có): Đo nhĩ lượng; đo phản xạ cơ bàn đạp; ghi đáp ứng thính giác thân não - ABR (Auditory Brainstem Response); ghi đáp ứng thính giác thân não tự động - AABR (Automated Auditory Brainstem Response). - Tiến triển, biến chứng Điếc nghề nghiệp cấp tính Có thể biến chứng: Viêm tai có cholesteatome; Tổn thương tiền đình (ù tai, chóng mặt); Liệt dây VII; Biến chứng nội sọ.
Điếc nghề nghiệp mạn tính: Ù tai, nghe kém thể toàn loa đạo, có thể tiến triển thành điếc đặc hoàn toàn. - Chẩn đoán phân biệt: Điếc tuổi già; Điếc do chấn thương sọ não; Điếc sau điều trị bằng tia X sâu vùng đầu cổ; Điếc do nhiễm độc; Điếc do nhiễm trùng; Viêm tai giữa; Xốp xơ tai; Hội chứng Menière; Nghe kém tiếp nhận do các nguyên nhân khác không phải tiếp xúc nghề nghiệp với tiếng ồn [6] Tần số (Hz) 500 1000 2000 4000 8000 0 10 20 30 dB 40 50 60 70 80 Hình 1. Thính lực đồ của người nghe bình thường 9 Tần số (Hz) 500 1000 2000 4000 8000 0 10 20 30 40 dB 50 60 70 80 Hình 1. Thính lực đồ của người bị giảm thính lực nghề nghiệp 1.
Biện pháp phòng chống tiếng ồn tại nơi làm việc Về công nghệ: Biện pháp giảm tiếng ồn có hiệu quả là khi xây dựng, lắp đặt dây chuyền sản xuất cần ưu tiên sử dụng các thiết bị, máy móc ít gây ồn hoặc sử dụng thiết bị tự động, đồng thời thường xuyên phải thay thế thiết bị, bảo trì, vệ sinh thiết bị máy móc giảm thiểu tối đa phát sinh tiếng ồn[25]. Trang bị bảo hộ lao động và chế độ nghỉ ngơi: Theo tác giả Hoàng Minh Thúy (2011), biện pháp phòng chống tác hại của tiếng ồn đối với người lao động có hiệu quả nhất là đeo nút tai, chụp tai chống ồn, các thiết bị chống ồn này có thể được làm bằng nguyên liệu sáp, bằng bông, cao su xốp, chất dẻo… Tuy nhiên các thiết bị này thường xuyên gây khó chịu, dị ứng cho người lao động, ngoài các thiết bị chống ồn bằng cao su, sáp… người lao động có thể sử dụng các loại tai chụp hay mũ chụp chống ồn[10]. Thời gian nghỉ giữa giờ làm việc cũng giúp cho người lao động hồi phục sức khỏe, giảm thời gian tiếp xúc với tiếng ồn, theo quy định thời gian làm việc 06 giờ trở lên trong một ngày thì người lao động được nghỉ giữa giờ ít nhất là 30 phút liên tục, làm việc ban đêm thì được nghỉ giữa giờ ít nhất 45 phút liên tục[2]. Tại nơi làm việc có tiếng ồn cao cần bố trí các phòng yên tĩnh để người lao động nghỉ ngơi.
Đối với những người lao động thường xuyên bị mệt mỏi thính lực thường xuyên phải lao động ở nơi có tiếng ồn cao, có thể nghỉ dưỡng bằng cách bố trí nghỉ ngơi trong một số ngày hoặc vài tuần[3]. 10 Về Y tế: Biện pháp dự phòng tốt nhất là phát hiện sớm một cách hệ thống sự giảm thính lực để có cách xử lý thích hợp, dự phòng tốt nhất là thường xuyên khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện sớm bệnh điếc nghề cho người lao động để có biện pháp xử lý kịp thời. Theo quy định trước khi tuyển dụng hoặc điều động bố trí người lao động vào làm việc trong môi trường có tiếng ồn cần thiết phải khám tuyển nhằm loại trừ những người lao động có bệnh lý về tai và quản lý thính lực của người lao động[3]. Không bố trí vào vị trí có tiếng ồn cao đối với những người bị các bệnh sau: viêm mũi, viêm tai giữa nhiều lần, tổn thương mê đạo, thần kinh không bình thường, bệnh tuyến nội tiết, bệnh tim mạch, loạn thính giác[5].
Định kỳ kiểm tra sức khỏe cho những người lao động thường tiếp xúc với môi trường có tiếng ồn ít nhất từ 6 tháng đến 01 năm người lao động phải được đo thính lực, qua đó so sánh với biểu đồ sức nghe của lần trước và không giảm quá 10 dB, người nào bị giảm thính lực có sức nghe trên 50dB đến 60dB ở tần số 4.000Hz, cần được đo thính lực hoàn chỉnh để phát hiện giảm thính lực nghề nghiệp. Để tăng hiệu quả phòng chống giảm thính lực nghề nghiệp, định kỳ tổ chức huấn luyện, tuyên truyền, học tập để người lao động nhận biết được nguyên nhân và tác hại của tiếng ồn từ đó người lao động sẽ có ý thức và tự giác làm tốt công tác bảo hộ lao động phòng chống bệnh điếc nghề nghiệp[3]. Các nghiên cứu về thực trạng ô nhiễm tiếng ồn và giảm thính lực nghề nghiệp tại nơi làm việc 1.