BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH _____________________________________________________ Chủ biên : TS. Lương Văn Tộ Thành viên tham gia : Th.S Đỗ Thị Mơ GIÁO TRÌNH KẾ TOÁN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP (TẬP 3) DÙNG CHO TRÌNH ĐỘ : ĐẠI HỌC QUẢNG NINH – 2021 1 LỜI MỞ ĐẦU Tiếp nối cuốn giáo trình Kế toán tài chính Doanh nghiệp (tập 2) và để phù hợp với nội dung cải cách chế độ kế toán Việt Nam. Khoa Kinh tế trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh đã tổ chức biên soạn cuốn giáo trình Kế toán tài chính Doanh nghiệp (tập 3) làm tài liệu giảng dạy, học tập cho sinh viên chuyên ngành Kế toán và sinh viên khối ngành kinh tế Tài chính ngân hàng; Quản trị kinh doanh của trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh. Cuốn giáo trình được biên soạn phù hợp với các văn bản quy định về chế độ kế toán Doanh Nghiệp trên tinh thần cập nhật đầy đủ các thông tin mới nhất của chế độ Kế toán Việt Nam hiện hành. Nhóm tác giả đã cố gắng chuyển tải những kiến thức chuyên ngành kế toán tài chính thành các kỹ năng nghiệp vụ kế toán cho độc giả đang theo học và tìm hiểu về môn Kế toán tài chính để có thể vận dụng kiến thức về kế toán để xử lý các vấn đề chuyên môn trong lĩnh vực kế toán. Từ đó thôi thúc nhóm tác giả mạnh dạn viết cuốn giáo trình này để góp phần vào tủ sách học tập và tham khảo của độc giả. Nội dung trình bày trong cuốn sách được thực hiện gồm 2 chương được trình bày, sắp xếp logic theo trình tự phù hợp với nhận thức chung của độc giả, để giúp cho người đọc từng bước hiểu và áp dụng thực hành. Chương 7: Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Chương 8: Báo cáo tài chính Xin cảm ơn sự đồng hành của hội đồng thẩm định giáo trình trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh và các đồng nghiệp đã đóng góp những ý kiến rất quý báu để cuốn sách được hoàn thiện hơn trước khi ra mắt độc giả. Cuốn sách lần đầu tiên được xuất bản nên khó tránh khỏi những thiếu xót rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn bè, đồng nghiệp, các chuyên gia, học giả, các nhà nghiên cứu thực hành về Kế toán tài chính Doanh nghiệp để lần xuất bản tiếp theo sẽ hoàn thiện tốt hơn. Xin chân thành cảm ơn. Thay mặt nhóm tác giả TS. Lương Văn Tộ 2 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nội dung TP Thành phẩm HH Hàng hóa KQKD Kết quả kinh doanh DT Doanh thu GTGT Giá trị gia tăng TTĐB Tiêu thụ đặc biệt NK Nhập khẩu XK Xuất khẩu TNDN Thu nhập doanh nghiệp XHCN Xã hội chủ nghĩa DNSXKD Doanh nghiệp Sản xuất kinh doanh DNTM Doanh nghiệp thương mại QLDN Quản lý doanh nghiệp CNV Công nhân viên SXKD Sản xuất kinh doanh TSCĐ Tài sản cố định TSCĐVH Tài sản cố định vô hình TSCĐHH Tài sản cố định hữu hình 3 Chương 7 KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH 7. Nhiệm vụ kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo ra các loại sản phẩm và cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường với mục tiêu là lợi nhuận. Để thực hiện mục tiêu đó, doanh nghiệp phải thực hiện được giá trị sản phẩm, hàng hoá thông qua hoạt động bán hàng. Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa gắn với phần lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất - kinh doanh, đây là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hoá sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán. Vì vậy, đẩy nhanh quá trình bán hàng đồng nghĩa với việc rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Để thực hiện được quá trình bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp phải phát sinh các khoản chi phí làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ dưới hình thức các khoản tiền đã chi ra, các khoản khấu trừ vào tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ làm giảm vốn chủ sở hữu. Đồng thời, doanh nghiệp cũng thu được các khoản doanh thu và thu nhập khác, đó là tổng giá trị các lợi ích kinh tế thu được trong kỳ phát sinh từ các hoạt động góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Sau một quá trình hoạt động, doanh nghiệp xác định được kết quả của từng hoạt động; trên cơ sở so sánh doanh thu, thu nhập với chi phí của từng hoạt động. Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được phân phối và sử dụng theo đúng mục đích phù hợp với cơ chế tài chính quy định cho từng loại hình doanh nghiệp cụ thể. Để đáp ứng được các yêu cầu quản lí về thành phẩm, háng hóa; bán hàng xác định kết quả và phân phối kết quả của các hoạt động. Kế toán phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây. 1) Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị. 4 2) Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời và chính xác các khoản doanh thu ,các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp .Đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng. 3) Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối kết quả các hoạt động. 4) Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân phối kết quả. Kế toán thành phẩm, hàng hoá 7. Khái niệm thành phẩm, hàng hoá Thành phẩm là những sản phẩm đã hoàn thành, đã trải qua tất cả các giai đoạn chế biến cần thiết theo quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm mỗi doanh nghiệp, đã được kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật quy trình, có thể nhập kho để chuẩn bị bán ra hay giao ngay cho khách hàng. Tùy theo đặc điểm sản xuất sản phẩm mà sản phẩm hoàn thành có thể chia thành nhiều loại với nhiều loại phẩm cấp khác nhau gọi là chính phẩm, thứ phẩm hay là sản phẩm loại một,sản phẩm loại hai. Việc phân biệt thành phẩm và nửa thành phẩm chỉ có ý nghĩa trong phạm vi mỗi doanh nghiệp.Ví dụ: Cũng là sợi đạt tiêu chuẩn kĩ thuật quy định được nhập kho hoặc bán trên thị trường của công ty dệt thì lại gọi là nửa thành phẩm; trong khi đó sợi của nhà máy sợi thì lại gọi là thành phẩm vì nó đã sản xuất qua toàn bộ các giai đoạn của quy trình công nghệ kĩ thuật theo thiết kế. Hàng hoá là những vật phẩm các doanh nghiệp mua về để bán phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Theo tính chất thương phẩm kết hợp với đặc trưng kỹ thuật thì hàng hoá được chia theo từng ngành hàng, trong từng ngành hàng bao gồm nhiều nhóm hàng; mỗi nhóm hàng có nhiều mặt hàng. Hàng hoá gồm có các ngành hàng: - Hàng kim khí điện máy; - Hàng hoá chất mỏ; - Hàng xăng dầu; - Hàng dệt may, bông vải sợi; - Hàng da cao su; 5 - Hàng gốm sứ, thuỷ tinh; - Hàng mây, tre đan; - Hàng rượu, bia, thuốc lá. Theo nguồn gốc sản xuất gồm có: - Ngành hàng nông sản; - Ngành hàng lâm sản; - Ngành hàng thuỷ sản; - Ngành hàng công nghệ phẩm. Theo khâu lưu thông: - Hàng hoá ở khâu bán buôn; - Hàng hoá ở khâu bán lẻ. Theo phương thức vận động của hàng hoá: - Hàng hoá luân chuyển qua kho; - Hàng hoá giao bán thẳng. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, các DNSXKD muốn đứng vững trên thị trường và tăng khả năng cạnh tranh phải sản xuất sản phẩm, kinh doanh hàng hoá đạt chất lượng tốt, hình thức mẫu mã đẹp, giá cả hợp lí, được thị trường chấp nhận. Muốn vậy, doanh nghiệp phải thực hiện đồng thời các biện pháp về tổ chức, kỹ thuật và quản lý kinh tế, trong đó kế toán như một công cụ quản lý hữu hiệu nhất. Đánh giá thành phẩm,hàng hoá 7. Đánh giá thành phẩm Theo nguyên tắc giá gốc thì thành phẩm được đánh giá theo giá thành sản xuất thực tế, tùy theo sự vận động của thành phẩm mà ta đánh giá cho phù hợp. * Đối với thành phẩm nhập kho: - Thành phẩm do DNSX hoàn thành nhập kho được phản ánh theo giá thành sản xuất thực tế (Zsxtt) của thành phẩm hoàn thành trong kì, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. 6 - Thành phẩm do thuê ngoài gia công chế biến hoàn thành nhập kho: Được tính theo giá thực tế gia công, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí thuê gia công và chi phí liên quan trực tiếp khác (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong gia công. - Thành phẩm đã bán bị trả lại nhập kho: Đánh giá bằng giá thực tế tại thời điểm xuất kho. * Đối với thành phẩm xuất kho: Thành phẩm xuất kho cũng được phản ánh theo giá thành sản xuất thực tế xuất kho. Thành phẩm thuộc nhóm tài sản hàng tồn kho, do vậy theo TT200/2014 của Bộ Tài chính, việc tính giá thành thực tế của sản phẩm tồn kho (hoặc xuất kho) được áp dụng một trong bốn phương pháp sau: +) Phương pháp thực tế đích danh +) Phương pháp bình quân gia quyền +) Phương pháp nhập trước, xuất trước 7. Đánh giá hàng hoá Về cơ bản, phương pháp đánh giá hàng hoá nhập kho cũng được áp dụng tương tự như đánh giá vật tư. Nhưng khi nhập kho hàng hoá, kế toán ghi theo trị giá mua thực tế của từng lần nhập hàng cho từng thứ hàng hoá. Các chi phí thu mua thực tế phát sinh liên quan trực tiếp đến quá trình mua như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, tiền thuê kho, bãi. được hạch toán riêng (mà không tính vào giá thực tế của từng thứ hàng hoá), đến cuối tháng mới tính toán phân bổ cho hàng hoá xuất kho để tính trị giá vốn thực tế của hàng hoá xuất kho.
Giáo Trình Kế Toán Tài Chính Doanh Nghiệp Tập 3
Giáo trình kế toán tài chính doanh nghiệp tập 3 cung cấp kiến thức chuyên sâu về kế toán, giúp nâng cao kỹ năng cho sinh viên và chuyên gia.
Trường đại học
Trường Đại Học Công Nghiệp Quảng NinhChuyên ngành
Kế ToánNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Giáo TrìnhPhí lưu trữ
55 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: TS. Lương Văn Tộ
Trường học: Trường Đại Học Công Nghiệp Quảng Ninh
Chuyên ngành: Kế Toán
Đề tài: Giáo Trình Kế Toán Tài Chính Doanh Nghiệp Tập 3 - Hướng Dẫn Chi Tiết
Loại tài liệu: Giáo Trình
Năm xuất bản: 2021
Địa điểm: Quảng Ninh
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ