CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT Thời gian: 03 giờ Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm, nhiệm vụ và vai trò của kế toán quản trị. - Trình bày được đối tượng của kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất - Trình bày được các phương pháp của kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất. Nội dung chính: 1. Một số vấn đề chung về kế toán quản trị doanh nghiệp sản xuất 1.
Khái niệm Kế toán quản trị là một khoa học thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh một cách cụ thể, phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế, tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Theo Luật kế toán, điều 3 khoản 4, Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu của quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Từ đó rút ra bản chất của kế toán quản trị như sau: - Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là một công cụ quan trọng không thể thiếu được đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp. Nhiệm vụ: - Tính toán và đưa ra quyết định cho một hoạt động hay cho việc lựa chọn phương án.
- Đo lường, tính toán chi phí cho một hoạt động, sản phẩm, hoặc một quyết định cụ thể. - Tìm ra những giải pháp tác động lên các chi phí để tối ưu hóa mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận. Để kế toán quản trị là công cụ hữu ích cho người quản lý, có thể nói rằng việc nắm bắt chi phí là cần thiết với cả 3 giai đoạn của quá trình quản lý: - Xác định mục tiêu; - Định hướng; - Đánh giá sau. Vai trò: - Vai trò của kế toán quản trị trong việc thực hiện chức năng quản lý ở doanh nghiệp: Trách nhiệm của các nhà quản trị các cấp trong DN là điều hành và quản lý các mặt hoạt động của DN.
Các chức năng cơ bản của quản lý doanh nghiệp, tất cả xoay quanh vấn đề “ra quyết định”. Để quản lý và ra quyết định đối với các tình huống thì cần phải có thông tin, nhà quản trị sẽ dựa vào thông tin cần thiết để ra quyết định đúng đắn. Kế toán quản trị là nguồn chủ yếu cung cấp nhu cầu thông tin đó. - Vai trò của kế toán quản trị trong quản trị kinh doanh của doanh nghiệp: Nhiệm vụ của nhà quản trị là ra quyết định, mà các quyết định có khả năng đảm bảo sự tồn tại, phát triển liên tục của DN và kiểm soát việc thực hiện các quyết định đó.
Kế toán quản trị chỉ là một trong số các nguồn cung cấp thông tin dành cho quản lý, nhưng là một nguồn quan trọng. Cụ thể, kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các chức năng dưới đây: + Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch + Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện + Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra, đánh giá + Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định + Góp phần tổ chức cải tiến công tác quản lý DN. Mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị Kế toán tài chính và kế toán quản trị có mối quan hệ mật thiết với nhau. Mối liên hệ đó thể hiện ở các điểm dưới đây: - Cùng phục vụ cho mục đích quản lý ở doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau.
Chúng đều là các bộ phận của một hệ cung cấp thông tin kế toán. - Đều gắn liền với trách nhiệm quản lý trên góc độ khác nhau. Kế toán tài chính liên quan đến trách nhiệm quản lý chung toàn DN, còn kế toán quản trị liên quan đến trách nhiệm quản lý trong từng bộ phận của DN, từng hoạt động hay từng loại chi phí. - Kế toán tài chính và một bộ phận quan trọng của kế toán quản trị phải tuân thủ những nguyên tắc, chuẩn mực kế toán được thừa nhận nhằm tạo sự thống nhất trong chỉ đạo, kiểm tra và hướng dẫn nghiệp vụ.
4 * Phân biệt giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính 1. Đối tượng sử dụng thông tin: Với kế toán quản trị đối tượng sử dụng thông tin là các thành viên bên trong doanh nghiệp: các chủ sở hữu, Ban giám đốc, Quản lý viên, Giám sát viên vv. Trong khi thông tin kế toán tài chính chủ yếu lại cung cấp cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như cổ đông, người cho vay, khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ (các cơ quan thuế, cơ quan quản lý tài chính). Nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin: Thông tin kế toán tài chính phải tuân thủ nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế toán của từng quốc gia, kể cả các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về kế toán được các quốc gia công nhận.
Trái lại,trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh đa dạng nên thông tin kế toán quản trị cần linh hoạt, nhanh chóng và thích hợp với từng quyết định cụ thể của nguời quản lý, không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực của kế toán chung. Các quy định của Nhà nước về kế toán quản trị (nếu có) cũng chỉ mang tính chất hướng dẫn. Tính pháp lý của kế toán: Kế toán tài chính có tính pháp lệnh (và tới đây sẽ tuân thủ theo luật kế toán), nghĩa là hệ thống sổ, ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của kế toán tài chính đều phải tuân theo các quy định thống nhất nếu muốn được thừa nhận. Ngược lại, tổ chức công tác quản trị lại mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng doanh nghiệp phù hợp với các đặc thù quản lý, điều kiện và khả năng quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp.
Đặc điểm thông tin: Thông tin của kế toán tài chính chủ yếu dưới hình thức giá trị. Còn thông tin của kế toán quản trị được biểu hiện cả hình thái hiện vật và hình thái giá trị. Thông tin của kế toán tài chính là thông tin thực hiện về những nghiệp vụ đã phát sinh, đã xảy ra. Trong khi đó, thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm cho tương lai vì phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phương án, đề án cho một sự kiện hoặc một quá trình chưa xảy ra.
Thông tin kế toán tài chính chủ yếu là các thông tin kế toán thuần túy, được thu thập từ các chứng từ ban đầu về kế toán. Trong kế toán quản trị, thông tin được thu thập nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định của nhà quản lý và thường không có sẵn, nên 5 ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, kế toán quản trị còn phải kết hợp với nhiều ngành khoa học khác như thống kê hạch toán nghiệp vụ, kinh tế học, quản lý để tổng hợp, phân tích và sử lý thông tin thành dạng có thể sử dụng được. Hình thức báo cáo sử dụng: Báo cáo được sử dụng trong kế toán tài chính là các báo cáo kế toán tổng hợp (gọi là các báo cáo tài chính) phản ánh tổng quát về sản nghiệp, kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ (gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính) Báo cáo của kế toán quản trị đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của doanh nghiệp (như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành, báo cáo nợ phải trả, báo cáo nhập xuất tồn kho vv. Kỳ báo cáo: Kỳ báo cáo của kế toán quản trị thường xuyên hơn và ngắn hơn kỳ báo cáo của kế toán tài chính.
Báo cáo của kế toán tài chính được soạn thảo theo định kỳ, thường là năm, còn báo cáo của kế toán quản trị được soạn thảo thường xuyên theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Đối tượng của kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất 1. Kế toán quản trị phản ánh đối tượng của kế toán nói chung dưới dạng chi tiết theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp Là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp, đối tượng của kế toán quản trị cũng là đối tượng của kế toán nói chung. Tuy nhiên, kế toán tài chính phản ánh kết quả của doanh nghiệp dưới dạng tổng quát thì kế toán quản trị phản ánh chi tiết dưới sự tổng quát đó.
Cụ thể như: - Phản ánh chi tiết các yếu tố sản xuất kinh doanh, như: Vật tư, tài sản cố định, lap động, tiềm lương (chi tiết từng đối tượng cụ thể cả về số lượng, đơn giá, giá trị, các chỉ tiêu chi tiết khác…) - Phản ánh, tính toán, phân bổ chi phí, giá thành (giá phí) chi tiết từng laoij tài sản (TSCĐ, sản phẩm dở, thành phẩm, hàng hóa mua…) - Phản ánh chi tiết doanh thu và kết quả từng hoạt động, bộ phận, địa điểm, sản phẩm, mặt hàng kinh doanh… của doanh nghiệp dưới dạng chi tiết. 6 - Phản ánh chi tiết các khoản công nợ phải trả, phải thu, các khoản thanh toán khác của doanh nghiệp… Mục đích của kế toán quản trị trong việc phản ánh chi tiết các đối tượng chung của kế toán là phục vụ cho yêu cầu quản lý các đối tượng đó, mặt khác, cung cấp thông tin thông tin phục vụ cho soạn thảo các báo cáo ra quyết định liên quan của nhà quản trị. Kế toán quản trị phản ánh hoạt động của doanh nghiệp Để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của mình, doanh nghiệp phải tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, tức là phải tổ chức huy động và tiêu dùng các nguồn lực (vốn, tài sản, nhân lực, vật lực…) để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ, kinh doanh hàng hóa…kế toán quản trị dựa trên cách thức huy động và tiêu dùng (sử dụng) các nguồn lực mà phản ánh và mô tả chúng để thực hiện mục đích của mình. Việc tổ chức huy động và sử dụng các nguồn lực ở mỗi doanh nghiệp có thể có những điểm rất khác nhau.
Điều đó chi phối bởi mô hình tổ chức bộ máy hoạt động và quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, kế toán quản trị gắn liền với tổ chức và công nghệ của doanh nghiệp.