CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. Khái niệm, đặc điểm và nhiệm vụ của hạch toán nguyên vật liệu. Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu. Khái niệm Theo giáo trình Kế toán tài chính của Trường Đại học công nghiệp Hà Nội đã nêu: “Nguyên vật liệu (NVL) đóng vai trò là đối tượng lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm, trong tiêu dùng nội bộ của doanh nghiệp.
Đây là những tài sản vật chất được doanh nghiệp mua sắm, dự trữ để cho sản xuất kinh doanh chế tạo thành sản phẩm hay thực hiện các dịch vụ hoặc sử dụng cho hoạt động bán hàng, cho hoạt động quản lý doanh nghiệp. Theo Thông tư 133/2016/TT-BTC: “Nguyên liệu, vật liệu của doanh nghiệp là những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp”. Đặc điểm của nguyên vật liệu Theo giáo trình Kế toán tài chính của Trường Đại học công nghiệp Hà Nội: “Nguyên vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ SXKD nhất định và chuyển hóa thành sản phẩm, do đó giá trị của nó là một trong những yếu tố hình thành nên giá thành sản phẩm. - Về mặt giá trị: giá trị của NVL được dịch chuyển toàn bộ, một lần vào chi phí sản xuất sản phẩm hay chi phí bộ phận sử dụng vật liệu.
- Về mặt hình thái: NVL khi tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh không giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, có thể bị biến đổi hoàn toàn hình thái ban đầu. - Giá trị sử dụng: khi sử dụng NVL dùng để sản xuất thì NVL đó sẽ tạo thêm những giá trị sử dụng khác. Trần Thị Hồng Huế – ĐH Kế toán 5 – K15 Khoá Luận Tốt Nghiệp Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội 18 Khoa Kế Toán - Kiểm Toán 1. Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu Muốn hoạt động SXKD của các doanh nghiệp tiến hành đều đặn, liên tục phải thường xuyên đảm bảo các loại NVL đủ về mặt số lượng, kịp về thời gian, đúng với quy cách sản phẩm.
Đảm bảo được việc cung ứng, dự trữ, sử dụng tiết kiệm các NVL có tác dụng mạnh mẽ đến các mặt hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Do đó, yêu cầu quản lý NVL được thể hiện ở một số điểm sau: + Khâu thu mua: NVL là tài sản dự trữ sản xuất thường xảy ra những biến động do các doanh nghiệp phải thường xuyên tiến hành cung ứng vật tư nhằm đáp ứng kịp thời cho hoạt động SXKD. Do đó, khâu mua NVL cần được quản lý một cách chặt chẽ cả về số lượng, chất lượng và giá cả sao cho chi phí NVL thấp nhất với chất lượng cao nhất. + Khâu bảo quản: Phải có hệ thống kho hàng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, nhân viên thủ kho có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn tốt.
Ngoài ra, việc bảo quản đảm bảo đúng chế độ quy định phù hợp với tính chất lý hoá của mỗi loại. + Khâu dự trữ: Các doanh nghiệp cần xây dựng định mức dự trữ hợp lí cho từng danh điểm Nguyên vật liệu. Định mức tồn kho là cơ sở để xây dựng kế hoạch thu mua và kế hoạch tài chính của doanh nghiệp. Dự trữ hợp lí, cân đối các loại Nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sẽ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, tránh được tồn đọng vốn trong kinh doanh.
+ Khâu sử dụng: Yêu cầu sử dụng phải hợp lí, tiết kiệm và theo đúng các định mức kinh tế kỹ thuật đặt ra cho từng sản phẩm. Đây là một trong những khâu có tính quyết định đến việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành để tăng tính cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu Kế toán nguyên vật liệu cũng là một phần của kế toán tài chính, quản lý kinh tế doanh nghiệp. Công việc thường xuyên của kế toán NVL như sau: Trần Thị Hồng Huế – ĐH Kế toán 5 – K15 Khoá Luận Tốt Nghiệp Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội 19 Khoa Kế Toán - Kiểm Toán + Ghi chép và phản ánh đầy đủ, kịp thời số lượng, chất lượng, giá thành của nguyên vật liệu mua vào, dự trữ để báo cáo kế toán trưởng phục vụ yêu cầu báo cáo tài chính.
+ Tổ chức thống nhất chứng từ, tài khoản kế toán tổng hợp, ghi chép nhằm phản ánh tính chính xác, kịp thời về số lượng, chất lượng, giá trị thực tế nhập- xuất- tồn và quá trình sử dụng tiêu hao cho sản xuất NVL. + Tổ chức kiểm tra, phân loại, đánh giá NVL có đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, nguyên tắc quản lý, tổ chức của nhà nước và quản trị doanh nghiệp hay không. Thường xuyên kiểm tra tình hình sử dụng NVL của bộ phận sản xuất. Nếu thiếu thì bổ sung kịp thời, nếu thừa thì thanh lý, không để tồn kho nhiều sẽ ảnh hưởng chất lượng và giá thành của NVL.
Việc này sẽ góp phần đánh giá, xác định được giá thành sản phẩm. Công việc kế toán nguyên vật liệu là một phần quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp. Kế toán NVL có chính xác hay không sẽ ảnh hưởng đến tình hình quản lý doanh nghiệp. Để cấp trên có phương án sản xuất đúng đắn, hiệu quả, tạo được chất lượng và năng suất, đề xuất đúng giá thành sản phẩm thì kế toán NVL phải luôn sãn sàng cập nhật kịp thời tình hình thu, mua, nhập, xuất và giá thành của NVL… 1.
Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu 1. Phân loại nguyên vật liệu Phân loại theo nội dung kinh tế + Nguyên liệu, vật liệu chính: Là những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì cấu thành thực thể vật chất, thực thể chính của sản phẩm. Vì vậy khái niệm nguyên liệu, vật liệu chính gắn liền với từng doanh nghiệp sản xuất cụ thể. Ví dụ như: Đối với doanh nghiệp sản xuất cơ khí, NVL chính là sắt, thép,… Trần Thị Hồng Huế – ĐH Kế toán 5 – K15 Khoá Luận Tốt Nghiệp Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội 20 Khoa Kế Toán - Kiểm Toán + Nguyên vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm nhưng có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng về ngoài, tăng thêm chất lượng của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường, hoặc phục vụ cho nhu cầu công nghệ, kỹ thuật, bảo quản đóng gói, phục vụ cho quá trình lao động.
Ví dụ: Doanh nghiệp sản xuất cơ khí, NVL phụ là bulong, đinh vít, sơn… + Nhiên liệu: Là những vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn hay thể khí như: Xăng, dầu, hơi đốt, than củi,… + Vật tư thay thế: Là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ sản xuất… + Phế liệu: Là các loại vật liệu đã mất hết hoặc một phần lớn giá trị mà doanh nghiệp thu hồi được trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài sản. Ví dụ như: sắt, thép vụn, phôi bào… + Vật liệu khác: Là những vật liệu không nằm trong những vật liệu kể trên, như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc chủng, … Phân loại theo nguồn thu nhập + Nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh. + Nguyên vật liệu mua ngoài: Từ thị trường trong nước hoặc nhập khẩu + Nguyên vật liệu tự gia công sản xuất Phân loại theo mục đích công dụng + Nguyên vật liệu tham gia vào quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, dịch vụ + Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: Góp vốn liên doanh, biếu tặng.
Trần Thị Hồng Huế – ĐH Kế toán 5 – K15 Khoá Luận Tốt Nghiệp Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội 21 Khoa Kế Toán - Kiểm Toán 1. Đánh giá NVL 1. Nguyên tắc đánh giá NVL. Đánh giá nguyên vật liệu là thước đo tiền tệ để biểu hiện giá trị của nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định đảm bảo yêu cầu trung thực khách quan.
Căn cứ Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02- Hàng tồn kho, ban hành và công bố theo quyết định 149/2001/QĐ-BTC, các nguyên tắc kế toán cơ bản sau ảnh hưởng trực tiếp đến cách xác định giá trị nguyên vật liệu: (Trương Thanh Hằng và các cộng sự, 2020) + Nguyên tắc giá gốc: Nguyên vật liệu phải được đánh giá theo giá gốc là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có được nguyên vật liệu ở địa điểm và trạng thái hiện tại. Các chi phí được tính vào giá gốc gồm chi phí mua, chi phí chế biến, chi phí liên quan trực tiếp khác. + Nguyên tắc thận trọng: Nguyên vật liệu phải được tính theo giá gốc, những trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Kế toán thực hiện nguyên tắc thận trọng thông qua công tác trích lập dự phòng giảm giá vật liệu dụng cụ vào cuối năm tài chính.
+ Nguyên tắc nhất quán: Khi xác định giá trị nguyên vật liệu nhập, xuất kho, phương pháp vận dụng phải đảm bảo tính nhất quán trong ít nhất một niên độ kế toán. Điều này, có nghĩa kế toán đã chọn phương pháp nào thì phải áp dụng phương pháp đó thống nhất trong suốt niên độ kế toán. Đánh giá NVL theo giá thực tế( Giá gốc) Giá gốc là giá trị được ghi nhận ban đầu của tài sản hoặc nợ phải trả. Giá gốc của tài sản bao gồm chi phí thu mua, bốc xếp, vận chuyển, lắp đặt, chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác theo quy định của pháp luật đến khi đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Giá thực tế NVL nhập kho: Trần Thị Hồng Huế – ĐH Kế toán 5 – K15 Khoá Luận Tốt Nghiệp Trường Đại Học Công Nghiệp Hà Nội 22 Khoa Kế Toán - Kiểm Toán Trong doanh nghiệp sản xuất, NVL được nhập từ nhiều nguồn khác nhau mà giá thực tế của từng loại được xác định như sau: - Đối với NVL mua ngoài Các khoản Giá thực tế Giá mua Các thuế không Chi phí NVL nhập = ghi trên + + - khoản được hoàn thu mua kho hóa đơn giảm trừ lại Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì không được tính thuế GTGT vào thực tế của nguyên vật liệu.