CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Mã chương: 2401 Mục tiêu: - Trình bày được khái niệm kế toán quản trị - Phân biệt được sự giống và khác nhau giữa kế toán quản trị kế toán tài chính và kế toán chi phí - Vận dụng được vai trò của kế toán quản trị trong việc thực hiện chức năng quản lý - Lựa chọn và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản về kế toán quản trị, đo lường kết quả của các mặt hoạt động, các đơn vị, các nhà quản trị và nhân viên trong tổ chức - Tham gia một cách tích cực với vai trò là một thành phần của đội ngũ quản lý - Trung thực, nghiêm túc trong nghiên cứu Nội dung chính: 1. Khái niệm, mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị 1. Khái niệm về kế toán quản trị Có rất nhiều các loại hình tổ chức khác nhau có ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của chúng ta như: các nhà sản xuất, công ty dịch vụ, các nhà bán lẻ, các tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức, cơ quan của Chính phủ.Tất cả các tổ chức này đều có 2 đặc điểm chung: Thứ nhất, mọi tổ chức đều có các mục tiêu hoạt động. Chẳng hạn, mục tiêu của một hãng hàng không có thể là lợi nhuận và thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.
Mục tiêucủa cơ quan công an là đảm bảo an ninh cho cộng đồng với chi phí hoạt động tối thiểu. Thứ hai, các nhà quản lýcủa mọi tổ chức đều cần thông tin để điều hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức. Nói chung, tổ chức có quy mô càng lớn thì nhu cầu thông tin cho quản lý càng nhiều. Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức.
Các nhà quản lý dựa vào thông tinkế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức (Hilton, 1991). Vai trò của kế toán quản trị Kế toán quản trị có vai trò quan trọng trong quản trị, điều hành doanh nghiệp thể hiện qua một số điểm sau: - Kế toán quản trị là nguồn cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý ra 7 quyết định kinh doanh ở tấtcả các khâu: lập kế hoạch, dự toán, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá. - Kế toán quản trị sẽ tư vấn cho nhà quản lý trong quá trình xử lý, phân tích thông tin, lựa chọn phương án,ra quyết định kinh doanh phù hợp nhất. - Kế toán quản trị giúp nhà quản lý kiểm tra, giám sát, điều hành các hoạt động kinh tế tài chính và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; giúp nhà quản lý đánh giá những vấn đề còn tồn tại phải khắc phục.
- Kế toán quản trị giúp nhà quản lý thu thập, phân tích thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch dự toán sảnxuất và tiên liệu kết quả kinh doanh. Theo Luật kế toán Việt Nam, kế toán quản trị được định nghĩa là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấpthông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (LuậtKế toán, khoản 3, điều 4). Nói tóm lại, kế toán quản trị là một lĩnh vực kế toán được thiết kế để thoả mãn nhu cầu thông tin của các nhà quản lý và các cá nhân khác làm việc trong một tổ chức 1. Mục tiêu của kế toán quản trị Để thực hiện các công việc trong quá trình quản lý hoạt động của tổ chức, các nhà quản lý rất cần đến thông tin.
Thông tin mà các nhà quản lý cần để thực hiện công việc được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau: các nhà kinh tế, các chuyên gia tài chính, các chuyên viên tiếp thị, sản xuất và các nhân viên kế toán quản trị của tổ chức. Hệ thống thông tin kế toán quản trị trong tổ chức có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để thực hiện các hoạt động quản lý. Kế toán quản trị có bốn mục tiêu chủ yếu như sau: - Cung cấp thông tin cho nhà quản lý để lập kế hoạch và ra quyết định. - Trợ giúp nhà quản lý trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức.
- Thúc đẩy các nhà quản lý đạt được các mục tiêu của tổ chức. - Đo lường hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý và các bộ phận, đơn vị trực thuộc trong tổ chức. Kế toán quản trị, kế toán tài chính và kế toán chi phí 2. Kế toán tài chính và kế toán quản trị Như đã trình bày trong những phần trên, trọng tâm của kế toán quản trị là cung cấp thông tin phục vụ chocác nhà quản lý của tổ chức.
Trong khi đó, mục tiêu của kế toán tài chính (financial accounting) là nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho các đối 8 tượng bên ngoài tổ chức. Báo cáo hàng năm của Công ty VINAMILK cho các cổ đông của công ty là một ví dụ điển hình về sản phẩm của hệ thống kế toán tài chính. Những người sử dụng thông tin kế toán tài chính bao gồm các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, các chủ nợ, các cơ quan nhà nước, các nhà phân tích đầu tư, khách hàng. Tuy vậy, hệ thống kế toán quản trị và kế toán tài chính cũng có nhiều điểm giống nhau bởi vì cả hai hệ thốngnày đều dựa vào dữ liệu thu thập được từ hệ thống kế toán cơ bản của tổ chức.
Hệ thống này bao gồm thủ tục, nhân sự, và hệ thống máy tính để thu thập và lưu trữ các dữ liệu tài chính của tổ chức. Một phần của hệ thống kế toán chung này là hệ thống kế toán chi phí (cost accounting) có nhiệm vụ thu thập thông tin chi phí được sử dụngtrong cả hệ thống kế toán quản trị và kế toán tài chính. Ví dụ, số liệu về giá thành sản phẩm được nhà quản lý sử dụng để định giá bán sản phẩm, đó là một mục đích sử dụng thông tin của kế toán quản trị. Tuy vậy, số liệu giá thành cũng được sử dụng để xác định giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán, đó lại là một mục đích sửdụng thông tin của kế toán tài chính.
Mối quan hệ giữa kế toán kế toán quản trị và kế toán tài chính được biểu hiện qua Sơ đồ sau Quan hệ giữa kế toán quản trịvà kế toán tài chính Thông tin Thông tin Nhà quản trị Hoạt động kinh doanh Kế toán tài chính Các bộ phận khác Kế toán quản trị và bên ngoài Mặc dù, giữa hệ thống kế toán qu ản trị và hệ thống kế toán tài chính có nhiều điểm chung, nhưng giữa chúngcó sự khác biệt rất lớn.2 liệt kê những điểm khác biệt giữa hai hệ thống kế toán này. 9 Những điểm khác biệt giữakế toán quản trị và kế toán tài chính Chỉ tiêu Kế toán quản trị Kế toán tài chính 1. Đối tượng sử dụng Nhà quản trị bên trong Những thành phần bên thông tin doanh nghiệp ngoài doanh nghiệp. Đặc điểm của thông tin Hướng về tương lai, linh Phản ánh quá khứ, cung cấp hoạt, nhanh, thích hợp.
Biểu diễn dưới hình Biểu diễn dưới hình thái thái giá trị và vật chất. Tính chất bắt buộc của Không tuân thủ các Tuân thủ các nguyên tắc thông tin và báo cáo nguyên tắc chung của kế của kế toán (GAAPs). Phạm vi báo cáo Từng bộ phận, khâu công Toàn doanh nghiệp việc 5. Kỳ báo cáo Bất kỳ khi nào cần cho Định kỳ hàng tháng,quý, quản lý.
Tính pháp lệnh Khô Không có tính pháp lệnh. Có tính pháp lệnh. Quan hệ với các ngành Nhiều. Kế toán chi phí với kế toán quản trị Kế toán chi phí là một nhánh của kế toán, có nhiệm vụ lưu chép chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến việc sản xuất mỗi đơn vị sản phẩm và dịch vụ do công ty cung cấp.
Kế toán chi phí quan tâm đến các vấn đề sau: - Soạn thảo các bảng kê (ví dụ: các bảng dự toán, các bảng tính chi phí). - Thu thập số liệu chi phí. - Phân bổ chi phí cho hàng tồn kho, sản phẩm và dịch vụ. Kế toán quản trị quan tâm đến những vấn đề sau: - Sử dụng số liệu tài chính và truyền đạt nó dưới dạng thông tin cho người sử dụng là các nhà quản trị các cấp ở bên trong tổ chức.
Kế toán chi phí là một phần của kế toán quản trị. Kế toán chi phí cung cấp một ngân hàng số liệu cho nhânviên kế toán quản trị sử dụng, gồm: 10 - Giá vốn sản phẩm sản xuất hay giá vốn dịch vụ cung cấp. - Giá vốn của một bộ phận hay một phần công việc. - Lợi nhuận của một sản phẩm, một dịch vụ, một bộ phận hay của toàn bộ tổ chức.
- Giá bán so với giá vốn hàng bán. - Giá trị của hàng tồn kho (nguyên liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm) còn trong kho vào lúc cuối kỳ, do đó hỗ trợ cho việc lập bảng cân đối kế toán của công ty. - Chi phí thực tế so với dự toán. Sơ đồ mô tả mối quan hệ giữa các hệ thống kế toán cơ bản của tổ chức với các hệ thống kế toán chi phí,kế toán quản trị, và kế toán tài chính.
Hệ thống kế toán (một phần của hệ thống thông tin quản lý của tổ chức) Thu thập dữ liệu (tài chính) về hoạt động của tổ chức Hệ thống kế toán chi phí (một phần của hệ thống thông tin kế toán của tổ chức) Thu thập thông tin về chi phí Kế toán quản trị cung cấp thông Kế toán tài chính soạn thảo tin cho việc lập kế hoạch, điều các báo cáo tàichính được công hành, kiểm travà ra quyết định bố (bắt buộc) và các báo cáo tài Người sử dụng bên trong Người sử dụng bên ngoài tổchức tổ chức Các nhà đầu tư, các chủ nợ,cơ quan Các nhà quản lý ở tất cả cáccấp thuế, các cơ quan quản lý trong tổ chức 11 2. Kế toán quản trị với các môn khoa học khác Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các nhà quản trị phải đưa ra quyết định trong tất các khâu của quá trình kinh doanh từ việc mua các chi phí đầu vào: mua nguyên vật liệu, tuyển dụng nhân viên,. đến việc đưa các yếu tố sản xuất vào quá trình sản xuất kinh doanh sau đó là tổ chức quá trình tiêu thụ hàng hoá sao cho thu được lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp. Trong tất các khâu của quá trình kinh doanh này các nhà quản trị đều phải tiến hành lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch rồi kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch đó.