CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC 1. Ngôn ngữ là gỉ? Có ngôn ngữ và khả năng sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng quan trong phản biệt con. người và động vật. Không có một con người bình thường nào không dùng ngôn ngữ.
Ngôn ngữ gần gũi, thân thiết như những gì gần gũi và thân thiết nhất mà con người có thể có. Nhưng it ai đặt câu hỏi Ngdn ngit la gi?. Điều đồ cũng giống như không khí rất quan trọng đối với con người, song không mấy khi ta nghe một người nào đó hỏi Không khí là gì?. Tuy nhiên Ngón ngữ là gì? là một trong những câu hồi đấu tiên mà Ngôn ngữ học phải trả lời và cũng là một trong những vấn để đầu tiên mà một người học Ngôn ngữ học phải biết.
Ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu đặc biệt. được ding lam phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và phương tiện tư đưy Cũ con người. Trong giao tiếp bằng ngày, chúng ta thường dùng những từ như ngôn ngữ của loài hoa, ngôn ngữ của loài vật, ngôn ngữ âm nhạc, ngón ngữ hội họa, ngôn ngữ điêu kh ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ lập trình, ngôn ngữ toán, v› Từ ngón xgữ trong những cách dùng như vậy không được hiểu theo nghĩa gốc của nó, mà chỉ được dùng với nghĩa phái sinh theo phép ẩn dụ, dựa trên cơ sở nét tương dồng giữa ngôn nạữ với những đối tượng được nói đến: công cụ dùng để biểu đạt, để thể hiện một điều gì đó. Bản chất của ngôn ngữ 1.
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội và là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa Ngôn ngữ có thể được hiểu như là sản phẩm của nhân loại nói chung hay như là sản phẩm của một cộng đồng cụ thể. Dù hiểu như thế nào thì ngôn ngữ cũng là một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ chỉ được hình thành và phát triển trong xã hội. Không có ngôn ngữ nào tách rời khỏi cộng đồng và không một người nào khi mới sinh ra, sống tách rời khỏi cộng đồng mà khả năng sử dụng ngôn ngữ được hình thành.
Điều đó làm cho ngôn ngữ khác vẻ cơ bản với những hiện tượng có tính chất ban nang ở con người như ân, tống, đi lại. Ngôn ngữ chỉ được hình thành đo quy ước nên không có tính chất di truyền như những đặc điểm vẻ chủng tộc. Đứa trẻ sinh ra mang những đặc điểm di truyền của những người thuộc thể hệ trên nó như màu da, màu mắt, mầu tóc, v. nhưng ngôn ngữ mẹ đẻ của nó có thể không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của bố mẹ nó.
Ngôn ngữ không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một bộ phận cấu thành quan trọng của văn hoá. Mỗi hệ thống ngôn ngữ đếu mang đậm dấu ấn văn hoá của cộng đồng người bản ngữ. Chính vì vậy, muốn sử dụng một ngôn nạữ, không chỉ phải biết ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, mà còn phải nắm vững cái dấu ấn vân hóa được thể hiện trong ngôn ngữ đó nữa. Giữ gìn và phát triển một ngôn nạữ cũng chính là góp.
phần giữ gìn và phát triển một nền văn hoá. Ngôn ngữ là một hệ thống dấu hiệu đặc biệt Trước hết ngôn ngữ là một hệ thống, vì như tất cả những hệ thống khác, ngôn ngữ là một thể thống nhất các yết tổ có quan hệ với nhau. Mỗi yếu tổ trong hệ thống ngôn ngữ có thể coi là một đơn vị. Các đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ được sắp xếp theo.
những quy tắc nhất định. Sự tồn tại của đơn vị ngôn ngữ này quy định sự tồn tại của đơn vị ngôn ngữ kia. Ngôn ngữ là một hệ thống đấu hiệu vì mỗi đơn vị ngôn ngữ là một dấu hiệu. Như tất cả những loại dấu hiệu khác, dấu hiệu ngôn ngữ là một thực thể mà hình thức vật chất của nó bao giờ cũng biểu đạt một cái gì dé’.
Nghĩa là mỗi dấu hiệu ngôn ngữ có hai mặt: hình thức âm thanh và cái mà hình thức đó biểu đạt. de Saussure, nhà Ngôn, ngit hoc Thuy Sĩ, người được mệnh danh là cha dé của Ngôn ngữ học hiện đại gọi mặt thứ nhất là cái biểu đạt và mặt thứ hai là cái được biểu đạt và hình dung mối quan he eiữa hai mặt này của đấu hiệu ngôn ngữ như sau: cải biểu đạt Hình 1. Sơ đồ dấu hiệu ngơn ngữ, theo F. Cẩn phân biệt đấu hiệu với tin hiếu, Tín hiệu bao giờ cũng truyền đạt một thông điệp tron ven.
“Chẳng hạn, đối với ngôn ngữ, chỉ có câu mối là tứa iu, còn hình vị, từ chỉ là đấn hiệu Chang han tir edy trong tiếng Việt là một đấu hiệu ngôn ngữ. Âm “cay” chinh 1a cái biểu đạt. Nói chính xác hơn, hình ảnh âm thanh "cây”, tức dấu vết tâm lí của cái am đó, chứ không phải bản thân âm như một hiện tượng thuần vật lí là cái biểu đạt, Vì cái biểu đạt của đấu hiệu ngôn ngữ tồn tại ngay cả khi ta không phát âm ra thành lời. Khái niệm "cây" (thực vật có rẻ, thân, lá rõ rệt, hoặc vật có hình thù giống những thực vật có thân, lá) là cái được biểu đạt.
Cái biểu đạt của dấu hiệu ngôn ngữ được tạo nên. từ chất liệu âm thanh (theo nghĩa âm thanh như vừa nêu). Khi dấu hiệu ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết thì chất liệu âm thanh đó được thay thế bảng những đường nét. Như vậy cần lưu ý, chữ viết chỉ là loại dấu hiệu ghi lại cái biểu đạt của dấu hiệu ngôn ngữ, chứ bản thân nó không phải là cái biểu đạt của dấu hiệu ngôn ngữ (xem thêm.
phần Ngữ 4m học). Ngôn ngữ là một hệ thổng dấu hiệu đặc biệt vì đồ là loại dấu hiệu chỉ có ở con người và có những nét đặc thù. Sau dây là những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ: a. Tinh v6 doan Giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của dấu hiệu ngôn ngữ không có một mối quan hệ tự nhiên, mối quan hệ này chỉ do người bản ngữ quy ước.
Cùng biểu đạt khái niệm “động vật có xương, sống ở dưới nước, bơi bằng vây hạn bằng mang”, nhưng các ngôn ngữ khác nhau dùng những âm rất khác nhau, chẳng tiếng Việt ding âm “cá”, tiếng Nga dùng âm "ryba", tiếng Anh dùng âm “fish”, v. Trong ngôn ngữ có một số dấu hiệu không có tính võ đoán, tức giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có một mối quan hệ tự nhiên, chẳng hạn những từ tượng thanh như mèo, chích chòe, bò, V. nhưng số lượng những từ này không đáng kể. Hơn nữa, tuy trưng riêng.
của mô phỏng âm thanh tự nhiên, nhưng từ tượng thanh cũng mang dặc từng ngón nạữ do ảnh hưởng cách lựa chọn của người bản ngữ. Chẳng hạn cùng mô phòng tiếng mèo kêu, nhưng từ tượng thanh trong tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, [mawmaw], tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hebrew có âm là [miaw], còn trong tiếng Ảrp là trong tiếng Hán là [meaw], trong tiếng Nhật là [niaw]. Vì thế xét cho cùng thì ngay cả từ tượng thanh cũng có một phần tính võ doán, b. Tinh da tri Giữa cái biểu dat và cái được biểu đạt của đấu hiệu ngôn ngữ không có mối quan hiện qua hệ một đối một: một vỏ ngữ âm có thể dùng để biểu đạt nhiều ý nghĩa (thể đạt bằng hiện tượng đa nghĩa và đồng âm), và ngược lại, một ý nghĩa có.
thể được biểu nhiều vỏ ngữ âm khác nhau (thể hiện qua hiên tượng đổng nghĩa). Nhờ có tính chất này: mà ngôn ngữ trở thành một phương tiện biểu đạt rất tinh tế và sinh động, thể hiện rõ nhấtở ngôn ngữ văn chương: Còn trời, còn nước, còn non Còn cô bắn rượu anh con say sua, (Ca đao) Say sira 6 thể được hiểu là một trạng thái sinh lí (vì rượu mà say) và cũng có thể là một trạng thái tâm lí (vì cô bán rượu mà say). Chính cách hiểu nước đôi này đã tạo ra sự ý Vị của câu ca đao. Tinh phan đoạn đôi Hệ thống ngôn ngữ được tổ chức theo hai bậc, trong đó bậc thứ nhất gồm một số lượng hạn chế những đơn vị âm cơ bản, không có nghĩa, có thể kết hợp với nhau để tạo.
ra những đơn vị thuộc bậc thứ hai, gồm một số lượng lớn những đơn vị có nghĩa. Những đơn vị âm cơ bản đó được gọi âm vị. Số lượng âm vị trong mỗi ngôn ngữ thường khoảng 40. Các âm vị kết hợp với nhau để tạo ra khoảng vài nghìn hình vị.
Các hình vị kết hợp lại với nhau để tạo thành từ vài chục nghìn đến vai tram nghìn từ. Các từ kết hợp với nhau để tạo thành một số lượng vô hạn những ngữ doạn và câu (về khái niệm âm vị, hình vị, nừ, ngữ đoạn và câu, xin xem chỉ tiết ở 2. Các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ). Nhiều dấu hiệu giao tiếp khác của con người và những đấu hiệu giao tiếp của loài vat không có cấu trúc hai bậc như vậy.
Ở đó mỗi đơn vị cơ bản gắn với một nghĩa, có bao nhiêu đơn vị cơ bản thì có bấy nhiêu nghĩa được biểu dạt. Có thể thấy rõ điều này khi so sánh ngôn ngữ với hệ thống đèn giao thông. Chẳng hạn, một câu như Mọi người phải dừng lại được cấu tạo từ hai đơn vị có nghĩa nhỏ hơn; mọi người và phải đừng lại, rồi mọi người và phải đừng lại được cấu tạo từ những đơn vị có nghĩa nhỏ hơn nữa: mọi, người, phải, đừng. Đến lượt mình, các đơn vị có.
nghĩa nhỏ nhất (không thể phân tích thành những đơn vị có nghĩa nhỏ hơn) như mọi, người, phải. dừng, lại được cấu tạo từ những đơn vị âm thanh có hình thức chữ viết là m, 0, i. Dấu hiệu đèn đỏ trong hệ thống đèn giao thông có thể truyền di một thông báo tương tự, nhưng đèn giao thông không có cấu trúc hai bậc, Ta không thể nào phân tích cái đấu hiệu đèn đỏ này thành những yếu tố nhỏ hơn. Nhờ có cấu trúc hai bậc mà ngôn ngữ có tính nàng sản.
Bất kì một người bình thường nào cũng có thể nói những câu mà trước đó người đó chưa bao giờ nói, có thể nghe hiểu những câu trước đó chưa bao giờ nghe. Khả năng tạo ra những câu mới của ngôn neữ là vô hạn. Tương tự như một số lượng rất hạn chế các con số (0, 1, .9) có thể kết hợp với nhau dể tạo thành vô số những con số lớn hơn.- Khác với các hệ thống dấu hiệu giao tiếp của loài vật, ngôn ngữ có thể thông báo.