Chương 1 NHỬNG VẤN ĐỀ CHUNG VỂ BẢN Đổ ĐỊA m HÌNH 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM THÀNH LẬP, BIÊN TẬP BẢN ĐÔ ĐỊA HÌNH 1. Khái niêm • về bản đồ đia • hình Đại hội lần thứ X Hội Bản đồ Thế giới năm 1991 đã đưa ra định nghía vê bản đồ học như sau: Bản đồ học là một ngành khoa học giải quyết những vấn đề lý luận, sản xuất, phổ biến và nghiên cứu vê bản đồ. Tùy thuộc vào đặc điểm nhiệm vụ nghiên cứu, bản đồ học có thê phân ra thành các chuyên ngành sau: 1- Bản đồ luận: Nghiên cứu về các phương pháp luận bản dồ.
2- Toán bản đồ: Nghiên cứu các vấn đê về lưối chiếu bản đồ. 3- Thành lập và biên tập bản đồ: Nghiên cứu các phương pháp và quá trình thành lập, sản xuất các bản đồ gốc, các vấn đề về tổng quát hóa nội dung bản đồ và quá trình chỉ đạo kỹ thuật khoa học trong suốt quá trình thành lập, sản xuất bản đồ, bắt đầu từ khâu đầu tiên chuẩn bị thành lập bản đồ đôn khâu cuôi cùng kiểm tra biên tập bản đồ khi in. 4- In bản đồ: Nghiên cứu các phương pháp và quá trình 1ĨÌ và nhăn bản bản đồ. Bản đồ học liên quan mật thiêt với rất nhiều ngành khoa học kể cận khác, đặc biệt là trắc địa và địa lý, ngàv nay nó còn liên quan nhiêu vói ngành tin học.
Ngoài những sô" liộu vê hình dạng và kích thước của Trai Đất, bản dồ dược thành lập trôn cơ sở sử dụng các kêt qua do đạc trắc địa. Tọa độ trắc địa của các điểm không chế được coi là cơ sở dể xây dựng bản đồ. Bản đồ là kết quả của trắc (lịa, hay nói cách khác, các tài liộu của trắc địa được sử dụrvg trong thành lập bản đồ. Cũng có thế coi bản đồ là một phần cua trắc địa và ngược lại, trắc địa là một phần cua bản đồ.
Bản đồ liọr và trắc địa học có mối liên quan mật thiết và chiếm vị trí quan trọng trong thành lập sản xuất bản đồ, đặc biệt lè bản ctồ địa hình. Chúng chỉ khác nhau ỏ chỗ, trong bản dồ hoc, hình ánh bản đồ được xây dựng bằng cách sử dụng các tư liêu bản đồ, còn trong trắc địa học bằng cách đo vẽ. Địa ]ý học giúp cho người làm bản đồ kiên thúc không thể thiếu vê môi trường tự nhiên và sự phân bô của các hiện tượng xã hội. Bản đồ học khỏng những nghiên cứu các phưcng pháp, kỹ thuật thành lập và sản xuất bản đồ, nghiên cứu về nội dung, biên tập và tổng quát hóa nội dung của tất cả các loai bản liồ mà còn nghiên cứu các phương pháp sử dụng, khai thác nội (lung của bản đồ.
Bản đồ là sự biểu thị bằng ký hiệu về thực tê địa lý, phản ánh các yếu tỏ hoặc các đặc điểm một cách chọn lọc thông qua nỗ lực sáng tạo của tác giả bản đồ và (ỉược thiết kê đê sử dụng khi các quan hệ không gian là những vấn đề cần dược ưu tiên (Hội Bản đồ Thế giới, năm 1991). 10 Trong hộ thống phân loại, ban đồ có thê chia thành hai nhóm: nhóm bản dồ địa lý chung và nhóm bản dồ chuyên dề. Trong đỏ, bản đồ địa lý ch u n g ]à mô hình thu nhỏ bể mặt Trái Đat thông qua phép chiếu toán học nhất định, có tống quát hóa va bằng hệ thông ký hiệư. phán ánh sự phân bô, trạng thái và rúc niối quan hệ tương quan nhất định giữa các yếu tô cơ bản rua địa lý tự nhiên và kinh te xã hội, còn bản đồ chuyên để là mô hình thư nhỏ thông qua phép chiêu toán học nhất định có tónt? <|uát hóa và bằng hệ thòng ký hiệu phản ánh chi tiết một hay vai yếu tô riêng biệt của địa ]ý tự nhiên hay kinh tê xã hội, con các yếu tỏ khác, không biểu thị hoặc biểu thị kém chi tiêt hơn.
Tủy thuộc vào mức độ chi tiết, phương pháp, kỹ thuật thành lạp và độ chính xác, trong nhóm bản đồ địa ]ý chung lại phân ra thành bản đồ địa hình (bản đồ địa lý chung có tỷ lệ lớn hơn và bang 1:1000000) và bản đồ khái quát (bản đồ địa lý chung có tỷ ]ệ nhỏ hơn 1:1000000). Bản đồ khái quát biểu thị một cách khái lược các yêu tô lớn, điển hình, quan trọng của địa ly tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực biểu thị. Còn bản đồ địa ỉunh biểu thị các yếu tô địa lý tự nhiên và kinh tê xã hội của bề mặt Trái Đất với mức độ đầy đủ, độ chính xác và chi tièt cao. Vậy cỏ thể định nghĩa một cách đầy đủ vê bản dồ địa hình như sau: b à n đ ố đ ia h ì n h là loại bản đồ địa Ịý chung, có tỳ lệ lớn hòn và bằng 1:1000000, là mô hình thu nhỏ một khu vực của bé Mật Trái Đất thông qua phép chiếu toán học nhất định, có tổng quát hóa và bằng hệ thông ký hiệu phản ánh sự phân bô, trạng thái và các môi quan hệ tương quan nhất định giữa các yêu tỏ cơ bản của địa lý tự nhiên và kinh té xá hội với mức độ day đủ, chi tiết và độ chính xác cao, các yêu tô này được biểu thị từon^ dối như nhau và phần lớn giữ được hình dạng, kích thước tlu '0 tỷ lệ bản đồ, đồng thời giữ được tính chính xác hình học ('ủa ký hiệu và tính tương ứng địa lý của yếu tô" nội dung cao.
11 Trên bản đồ địa hình, không đưa lên tất cả mọi hình ảnh cỏ trên mặt đất, mà chỉ chứa đựng một lượng thông tin phụ thuộc bởi thòi gian, không gian và mục đích sử dụng. Tinh không gian trên bản đồ địa hình được xác định bởi giới hạn khu vực (ỉuỢe tiến hành đo vẽ và thành lập bản đồ. Tính thòi gian (Ịuy định ghi nhận trên bản đồ địa hình hiện trạng của bề mặt Trái Đất ờ thòi điểm tiến hành đo vẽ. iMục đích sử dụng chi phôi nội dung và độ chính xác của bản đồ.
Yêu tô không gian biểu diễn và mục đích sử dụng có ảnh hương tới việc chọn tỷ lệ cho bản dó. Đặc điểm thành lập và biên tập bản đồ đia hình ở nước ta, bản đồ địa hình dược thành lập ỏ nhiêu có quan trong nước, nhưng chủ yếu được sản xuất và thành lập tại Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước, sau đỏ là Tổng cục Địa chính, nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường và tại Cục Bản đồ Bộ Tổng tham mưu thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ Tài nguyên và Môi trường, bên cạnh việc xây dựng cơ sỏ trắc địa nhà nước, tiỏn hành thành lập và sản xuất các bản đồ cơ bản nhà nước như bản đồ địa hình, bản đồ khái quát, các loại bản đồ và tập bản (lồ khác nhau. Quá trình sản xuât bản đồ địa hình đặc trưng bồi nliiốu phương pháp khác nhau.
Song các phương pháp này có thể gộp lại thành hai phương pháp cò bản, đó là phương pháp đo v<‘ và phương pháp biên vẽ. P h ư ơ ng p h á p đo vẽ là phương pháp đo đạc trực tiếp trẽn mặt đất hoặc trên ảnh chụp từ mặt đất rồi từ đó thành lập ra bản đồ. Phương pháp này thường dừng đổ thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ lớn hơn hoặc bằng 1:25000 (khi đo vẽ trực tiếp trên mặt đất), 1:50000 (khi đo vẽ trên ảnh chụp từ mặt đất). 12 Ban dồ địa hình là kêt quà của đo vè địa hình trên cd sở mạng lưới không chế trắc địa Nhà nước cấp I, II, III và IV.
Hay nói cách khác, mạng lưới không chế trắc địa Nhà nước cấp I, II, III và IV phủ trùm toàn quốc là cơ sở để thành lập hệ thông bản đồ dịa hình cho toàn bộ lãnh thố Việt Nam. Trong phương pháp này, hình ảnh bản đồ dược xây dựng trên cơ sở dữ liệu đo vè ảnh hàng không hoặc quá trình đo vẽ trực tiếp mặt đất. Đo vè địa hình và trắc địa ảnh có V nghía rất lớn đôi với ngành bản đồ. Các số liệu đo vẻ địa hình mặt đất và ảnh chụp mặt đất là tài liệu gốc để thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ lớn.
Quá trình đo vẽ gồm các giai đoạn sau: 1- Giai đoạn chuẩn bị gồni có: nhận và nghiên cứu nhiệm vụ, khảo sát khu đo, lập phương án kinh tê - kỹ thuật đo vẽ; 2- Giai đoạn đo vẽ, khi đo vẽ sử (lụng các phương pháp đo vẽ sau: Đo vẽ bàn đạc trên giấy trắng, đo vẽ toàn đạc và đo vè trên ảnh chụp mặt đất. Trong phương pháp đo vẽ trên ảnh chụp mặt đất lại phân ra thành phương pháp đo vẽ phối hợp trên ảnh đơn hoặc trên bình đồ ảnh và phương pháp do vè lập thể vi phân hoặc toàn năng. Các phương pháp đo vẽ có thể tóm tắt trên sơ đồ hình 1. Bàn dạc, toàn đạc trên giấy trắ n g Toàn nống, g iả i tích , ản h số Hình 1.
Các phương pháp đo vẽ bản đồ địa hình Phương pháp toàn đạc hoặc bàn đạc dùng để đo vẽ thành lập bản đồ địa hình cho vùng có diện tích nhỏ và không có ảnh 13 chụp từ máy bay. Phương pháp đo vẽ phôi hợp dùng đế thành lập bản đồ cho vùng đồng bằng. Phương pháp vi phân dùrg đê do vẽ thành lập bản đồ địa hình cho vùng đồi (hiện nay hau như không dùng vì độ chính xác không cao). Phương pháp đo Ví* lập thể dùng để đo vẽ thành lập bản đồ các loại địa hình, hiện nay là phương pháp phổ biến theo các công nghệ đo vẽ ảnh tron may toàn năng chính xác, trên hệ thông máy ADAM, trên trạm Co vẽ ảnh sỏ Imagestation của Intergraph; 3.
Giai đoạn chuẩi bị trước khi in - chuẩn bị bản đồ thanh vè và bản đồ tham Ihào phân tô (theo phương pháp truyền thông), dùng phần hểm chuyên dụng thành lập, biên tập bản dồ và chế bản gốc ra ỉ him trên máy tính (theo phương pháp hiện đại - tin học); 4. lỉiai đoạn chê bản in, in bản đồ kiểm tra và in hàng loạt bản đ); 5. Giai đoạn sau khi in bản đồ: tổng kết kỹ thuật, dể ra phvơng hướng hoàn thiện bản đồ tiếp.theo và giao nộp sản phẩm. Phương pháp biên vẽ là phương pháp dựa vào bản đc địa hình tý lệ lớn hơn và tài liệu có liên quan để thành lập bải (tồ địa hình tỷ lệ nhỏ hơn.
Thường dùng để thành lập bản đéđịa hình có tỷ lệ nhỏ hơn 1:25000. Các giai đoạn thành lập l)ảì dồ địa hình theo phương pháp biên vẽ gồm: 1.