Tổng quan luận án
Công trình "Giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Huyền, thuộc chuyên ngành Lí luận và lịch sử giáo dục (Mã số: 09.02) tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh và PGS.TS Lê Thị Thu Hiền. Luận án giải quyết một vấn đề cấp bách thuộc khoa học giáo dục mầm non, hướng tới việc hình thành năng lực hành động tự bảo vệ cho trẻ lứa tuổi mầm non trước các nguy cơ thương tổn thể chất.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tai nạn thương tích (TNTT) ở trẻ em là thách thức lớn đối với y tế công cộng và an sinh xã hội. Dẫn liệu từ Cục Quản lý môi trường - Bộ Y tế (2017) cho thấy mỗi năm tại Việt Nam có trung bình hơn 370.000 trẻ em bị TNTT, trong đó nhóm tuổi 0 - 4 chiếm 19,5% và nhóm tuổi 5 - 14 chiếm 36,9%. Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này xuất phát từ việc trẻ thiếu kĩ năng (KN) nhận diện và phòng tránh nguy cơ. Mặt khác, người lớn thường có xu hướng bao bọc, làm thay hoặc áp đặt các biện pháp ngăn cấm thụ động, chưa tạo điều kiện để trẻ rèn luyện tính độc lập trong ứng phó tình huống.
Trong thực tiễn giáo dục mầm non (GDMN), các cơ sở giáo dục chủ yếu tập trung vào việc kiến thiết môi trường an toàn vật chất hơn là thiết kế các hoạt động giáo dục kĩ năng mang tính hành động. Giáo viên mầm non (GVMN) vẫn lúng túng trong việc xác định nội dung, lựa chọn phương pháp và tổ chức môi trường thực hành kĩ năng an toàn. Về mặt lý luận, các công trình trước đây đã bước đầu tiếp cận vấn đề giáo dục kĩ năng sống và phòng chống TNTT, tuy nhiên chưa có nghiên cứu hệ thống hóa và cụ thể hóa tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thông qua phương thức trải nghiệm mô phỏng.
Mục đích và giả thuyết khoa học
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng nhằm nâng cao KN phòng tránh TNTT cho trẻ.
- Giả thuyết khoa học: Nếu tiến trình tổ chức các hoạt động giáo dục KN phòng tránh TNTT dựa vào trải nghiệm mô phỏng đảm bảo sự nhất quán giữa mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động và môi trường giáo dục, thông qua việc tổ chức hướng dẫn trẻ trải nghiệm mô phỏng, rèn luyện các KN phòng tránh TNTT cho trẻ thì sẽ góp phần nâng cao kết quả giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở trường mầm non.
- Đối tượng nghiên cứu: Tiến trình tổ chức các hoạt động giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng và thực trạng KN phòng tránh TNTT ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
- Xây dựng tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục KN phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi theo mô hình trải nghiệm mô phỏng đã đề xuất.
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào kĩ năng phòng tránh TNTT liên quan đến vật dụng, địa điểm hoạt động và hành động của trẻ; cấu trúc kĩ năng gồm 3 kĩ năng thành phần; tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục qua trải nghiệm mô phỏng.
- Khách thể và địa bàn khảo sát thực trạng: Khảo sát 280 GVMN tại 17 trường mầm non thuộc 5 tỉnh miền núi phía Đông Bắc gồm Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang; khảo sát đánh giá kĩ năng trên 90 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại Trường Mầm non 19/5 (Thái Nguyên), Trường Mầm non Xuất Lễ (Lạng Sơn) và Trường Mầm non Hoa Hồng (Tuyên Quang).
- Phạm vi và thời gian thực nghiệm sư phạm: Tiến hành tại Trường Mầm non Đồng Quang và Trường Mầm non Quyết Thắng thuộc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, trong khoảng thời gian từ tháng 9/2019 đến tháng 01/2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba mạch nội dung chính:
Nghiên cứu về kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích của trẻ em
Các nghiên cứu quốc tế khẳng định TNTT là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng đe dọa sự sống còn của trẻ em, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở lứa tuổi 5 - 19 (Mulvaney, 2012; WHO, 2008, 2010). Dưới giác độ giáo dục, UNESCO và UNICEF xếp kĩ năng bảo vệ bản thân và phòng chống hiểm họa vào nhóm kĩ năng sống chuyên biệt, gắn với năng lực tự nhận thức và quản lý bản thân. Tại Việt Nam, Lê Bích Ngọc (2013) phân loại kĩ năng phòng tránh TNTT vào nhóm kĩ năng ý thức về bản thân (tuân thủ quy tắc an toàn, nhận diện nguy hiểm, kêu gọi cứu trợ). Trương Thị Hoa Bích Dung nghiên cứu các kĩ năng tự bảo vệ cơ bản ở lứa tuổi mầm non và tiểu học.
Về cấu trúc kĩ năng an toàn, Raymond G. Miltenberger (2008), Kimberlee R. (2008), Marchand-Martella N. (1996) xác định mô hình ba bước: nhận diện nguy cơ và tránh tiếp xúc, tránh xa mối đe dọa, thông báo cho người lớn có trách nhiệm. Các nghiên cứu chuyên sâu về tình huống cụ thể bao gồm phòng chống tai nạn do súng và chất độc (Gatheridge B.J. và cộng sự, 2004; Gross A. và cộng sự, 2007; Himle M.B. và cộng sự, 2004; Miltenberger R. và cộng sự, 2004; Craig J., Crane N., McDermott R.J., 1998), phòng chống bắt cóc (Poche C., 1981; Johnson B. và cộng sự, 2005, 2006). Các yếu tố ảnh hưởng như khả năng chú ý, độ tuổi và giới tính được khảo sát bởi Tabibi Z. & Pfeffer K. (2003) và Congiu M. và cộng sự (2005).
Nghiên cứu về giáo dục qua trải nghiệm và trải nghiệm mô phỏng
- Lý thuyết học tập qua trải nghiệm: Kế thừa tư tưởng của L. Vygotsky (vùng phát triển gần nhất, kinh nghiệm nền tảng), J. Piaget (sự hình thành trí tuệ qua tương tác hành động với môi trường), Kurt Lewin (học tập trong môi trường thực tiễn), John Dewey (triết lý giáo dục thông qua làm việc - "learning by doing"), David Kolb (1984) đã hoàn thiện mô hình chu trình học tập qua trải nghiệm gồm 4 giai đoạn: Trải nghiệm cụ thể, Quan sát suy ngẫm, Khái niệm hóa và Thử nghiệm thực tế. Tại Việt Nam, các công trình của Hoàng Thị Phương, Lã Bắc Lý, Bùi Thị Lâm, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Thị Mỹ Dung, Vũ Thanh Vân (2018), Nguyễn Mạnh Tuấn và Hoàng Thị Phương (2017), Nguyễn Thị Thu Hạnh (2021) đã phân tích bản chất và quy trình trải nghiệm trong GDMN.
- Trải nghiệm mô phỏng: Ban đầu được ứng dụng rộng rãi trong y tế nhằm tạo lập môi trường thực hành không rủi ro (Issenberg và cộng sự, 2005; Adam Cheng, 2007). Trong giáo dục, mô phỏng được định nghĩa là kỹ thuật tái tạo hiện thực nhằm phục vụ mục tiêu học tập (Cruz và Patterson, 2005; Clapper, 2010; Lyons, 2012; Xiang Ming, 2016; Stevens R., 2015). Các hình thức mô phỏng gồm: đóng vai/nhập vai (Jane Dunkel Chilcott, 1996), mô phỏng lớp học/mô hình hóa (Kleinert, Browder & Towles-Reeves, 2009; Alberto, Cihak & Gama, 2005; Yasemin Ergenekon, 2014) và mô phỏng thực tế ảo (Huang Xinyuan, 1999; Xiang Ming, 2016).
Nghiên cứu về phương pháp và hình thức giáo dục kĩ năng an toàn
Phương pháp huấn luyện kĩ năng hành vi (Behavioral Skills Training - BST) bao gồm các bước hướng dẫn, làm mẫu, tập dượt và phản hồi củng cố được chứng minh đạt hiệu quả cao trong rèn luyện hành vi an toàn (Himle và cộng sự, 2004; Gatheridge và cộng sự, 2004). Nghiên cứu của Cheryl Poche, Paul Yoder và Raymond Miltenberger (1988) chỉ ra việc kết hợp băng video với tập dượt hành vi mang lại hiệu quả vượt trội so với giảng dạy thuyết trình đơn thuần. Các hình thức hỗ trợ khác gồm sử dụng con rối, phần mềm mô phỏng tương tác (Spiegel và David với chương trình The Blue Dog, BARK), ứng dụng thực tế ảo và trò chơi mô phỏng trên thiết bị số (Lise Renaud & Samy Suissa, 1989; Catherine Purcell & Amy R. Romijn, 2020; Shana Smith & Emily Ericson, 2009; Kee Man Chuah và cộng sự, 2009). Ở trong nước, các tài liệu hướng dẫn của Huyền Linh (2011), Lâm Trinh (2011), Nguyễn Thị Hiếu và cộng sự (2015), Nguyễn Khánh Phương (2013), Trần Thu Hòa (2014) đã biên soạn nhiều nội dung phòng ngừa rủi ro cho trẻ.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của TNTT và phương pháp mô phỏng, phần lớn các công trình chỉ tập trung vào một nguy cơ cụ thể hoặc áp dụng các can thiệp nhận thức rời rạc. Chưa có công trình nào thiết kế một tiến trình sư phạm tổng thể, hoàn chỉnh và có tính chu trình khoa học để giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dựa trên mô hình trải nghiệm mô phỏng trong bối cảnh thực tiễn trường mầm non tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
-
Các cách tiếp cận nghiên cứu:
- Tiếp cận hoạt động: Kĩ năng được hình thành thông qua các thao tác hành động trực tiếp của trẻ trong môi trường trải nghiệm.
- Tiếp cận hệ thống: Xem giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT là một tiến trình chỉnh thể, nhất quán từ xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, xây dựng kịch bản, vận dụng phương pháp đến kiểm tra, đánh giá.
- Tiếp cận cá nhân: Tôn trọng đặc điểm phát triển tâm sinh lý, vốn kinh nghiệm và mức độ nhận thức của từng trẻ.
- Tiếp cận thực tiễn: Căn cứ vào điều kiện cơ sở vật chất, đặc thù nguy cơ TNTT của từng địa phương và trường học.
- Tiếp cận phát triển: Dựa trên quy luật phát triển tâm lý trẻ em và lý thuyết vùng phát triển gần nhất của L. Vygotsky để dẫn dắt hành vi của trẻ từ mức độ phụ thuộc sang tự chủ.
-
Khái niệm kĩ năng và kĩ năng phòng tránh TNTT:
Luận án kế thừa hai hướng tiếp cận về kĩ năng: hướng kĩ thuật hành động (Kovaliov, 1994; Đặng Thành Hưng, 2010) và hướng năng lực thực hiện (K.K. Platonov; Nguyễn Quang Uẩn, 2001; Huỳnh Văn Sơn, 2009; N.D. Levitov, 1971). Luận án xác định: Kĩ năng phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là biểu hiện năng lực hành động dựa trên việc áp dụng tri thức được trang bị, kinh nghiệm đã có, huy động nhu cầu, tình cảm, ý chí của bản thân để chủ động phòng tránh những yếu tố nguy hiểm hoặc giảm thiểu yếu tố nguy cơ không an toàn có thể gây ra thương tổn cho bản thân hoặc cho người khác.
-
Cơ chế hình thành kĩ năng:
Dựa trên các nghiên cứu của K. Golubev, Nguyễn Quang Uẩn (2001) và Lê Bích Ngọc (2013), quá trình hình thành kĩ năng phòng tránh TNTT ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi diễn ra qua 3 bước liên hoàn:
- Bước 1: Quan sát mẫu hành động (xây dựng biểu tượng đúng về tình huống nguy cơ và thao tác ứng phó an toàn).
- Bước 2: Thực hiện hành động (trẻ tập dượt, bắt chước hành động mẫu trong các tình huống quen thuộc).
- Bước 3: Luyện tập củng cố (chủ động thực hiện thường xuyên, linh hoạt di chuyển kĩ năng vào tình huống mới với tính tự giác cao).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa và khái quát hóa các nguồn tài liệu khoa học giáo dục, tâm lý học và y tế.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến dành cho 280 GVMN và phiếu khảo sát cha mẹ trẻ nhằm thu thập dữ liệu về nhận thức, nội dung, phương pháp và khó khăn thực tế.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Sử dụng biên bản quan sát ghi nhận hành vi của giáo viên và trẻ trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục tại trường mầm non.
- Phương pháp bài tập đo nghiệm: Thiết kế hệ thống tình huống thực hành đo nghiệm trực tiếp trên 90 trẻ 5 - 6 tuổi theo thang tiêu chí định lượng.
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia giáo dục mầm non về cấu trúc kĩ năng, tiêu chí đo lường và tiến trình giáo dục đề xuất.
- Phương pháp đàm thoại và phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và trò chuyện gợi mở với trẻ.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm đối chứng qua 2 vòng (vòng 1: thăm dò; vòng 2: tác động chính thức) với việc thiết lập nhóm Thực nghiệm (TN) và nhóm Đối chứng (ĐC) tương đương.
- Phương pháp thống kê toán học: Ứng dụng phần mềm tin học (Excel) để xử lý dữ liệu khảo sát và thực nghiệm: tính điểm trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($SD$), kiểm định sai khác ($t$-test), tính tần suất hội tụ tiến và hệ số tương quan ($r$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện cho luận án:
- Phân loại các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ: Phân định thành 4 nhóm nguy cơ chính gồm nguy cơ do vật dụng (đồ sắc nhọn, nguồn điện, hóa chất, vật nóng); nguy cơ do địa điểm hoạt động (nơi có độ cao, chướng ngại vật, nguồn nước); nguy cơ do hành động của trẻ (leo trèo, nghịch ngợm cơ thể, đùa nghịch khi ăn); và nguy cơ trong các tình huống khẩn cấp (hỏa hoạn, đi lạc, đối tượng lạ dụ dỗ).
- Cấu trúc 3 kĩ năng thành phần: Luận án xác lập cấu trúc chuẩn của KN phòng tránh TNTT cho trẻ 5 - 6 tuổi gồm:
- KN1: KN nhận diện, phát hiện tình huống/ yếu tố nguy cơ gây TNTT.
- KN2: KN xử lý khi phát hiện tình huống/ yếu tố nguy cơ gây TNTT.
- KN3: KN chủ động thay đổi hành vi bản thân nhằm ứng phó hiệu quả những tình huống gây TNTT cho bản thân và người khác.
Bảng tổng hợp cấu trúc kĩ năng và biểu hiện hành vi được xác định trong luận án:
| Kĩ năng thành phần |
Kĩ năng cụ thể |
Biểu hiện hành vi của trẻ 5 - 6 tuổi |
| KN1: Nhận diện, phát hiện yếu tố nguy cơ |
- Quan sát môi trường xung quanh - Phát hiện bất thường và xác định nguy cơ - Phán đoán mức độ nguy cơ |
- Sử dụng các giác quan phát hiện điểm bất thường (tiếng động, mùi lạ, khói, vật sắc). - Phân tích dấu hiệu không an toàn của vật dụng, địa điểm. - Nêu được hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra cho mình và người khác. |
| KN2: Xử lý khi phát hiện yếu tố nguy cơ |
- Đưa ra thông báo khẩn cấp - Xác định đối tượng trợ giúp - Thực hiện hành vi ứng phó ban đầu |
- Dùng lời nói, tiếng hét, gõ đập hoặc nhấn chuông báo động để tìm sự trợ giúp. - Nhận biết người hỗ trợ phù hợp (công an, bộ đội, bảo vệ, người lớn) và nhớ số điện thoại khẩn cấp (111, 113, 114, 115). - Cung cấp thông tin bản thân (họ tên, trường lớp, số điện thoại gia đình) và tình hình nguy hiểm. |
| KN3: Chủ động thay đổi hành vi bản thân |
- Hành động giảm thiểu nguy hiểm - Hành động giảm thiểu nguy cơ - Ứng phó an toàn khi có sự cố |
- Chấp hành chỉ dẫn, quan sát và làm theo mẫu hành vi an toàn của người lớn. - Thao tác đúng quy trình khi dùng vật dụng; tránh xa nơi nguy hiểm; chủ động dọn dẹp vật cản hoặc báo người khác tránh xa. - Giữ bình tĩnh, thực hiện thao tác tự bảo vệ thân thể khi xảy ra sự cố. |
- Đặc điểm phát triển của trẻ 5 - 6 tuổi liên quan đến kĩ năng: Về mặt thể chất và cảm giác, trẻ hoàn thiện khả năng phân biệt màu sắc, kích thước, hình dạng, nhiệt độ và mùi vị khác thường. Khả năng chú ý có chủ định phát triển rõ nét, duy trì liên tục từ 37 - 51 phút đối với các đối tượng kích thích hấp dẫn, có thể phân phối chú ý trên 2 - 3 đối tượng. Tư duy chuyển mạnh từ trực quan hành động sang trực quan hình tượng, bắt đầu biết suy ngẫm và phán đoán nguyên nhân - kết quả. Tuy nhiên, tư duy còn mang nặng tính trực quan, kinh nghiệm sống còn hạn chế, trẻ dễ tin người và dễ bị các đối tượng xấu lôi kéo bằng kẹo, quà tặng hoặc đồ chơi.
Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn thông qua điều tra diện rộng:
- Đánh giá chương trình GDMN hiện hành: Nội dung an toàn và phòng tránh TNTT đã được tích hợp trong lĩnh vực Phát triển thể chất và Phát triển kĩ năng xã hội cũng như Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi. Tuy nhiên, nội dung còn tản mạn, thiếu tài liệu hướng dẫn cụ thể về việc mô phỏng hóa các tình huống hiểm họa để trẻ trực tiếp thực hành thao tác.
- Nhận thức và thực hành của GVMN (280 giáo viên thuộc 17 trường):
- Về nhận thức: Đa số giáo viên khẳng định tính cấp thiết của việc giáo dục kĩ năng tự bảo vệ cho trẻ. Tuy nhiên, nhận thức về khái niệm và bản chất của "trải nghiệm mô phỏng" còn mơ hồ, nhiều giáo viên đồng nhất mô phỏng với hoạt động xem tranh ảnh, video minh họa đơn thuần.
- Về phương pháp và hình thức: Giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp dùng lời (giải thích, đàm thoại, nhắc nhở, cấm đoán) và quan sát hình ảnh; ít tổ chức cho trẻ trực tiếp trải nghiệm qua tình huống giả định hoặc đóng vai xử lý vấn đề.
- Về khó khăn: GVMN phản ánh những trở ngại chính gồm thiếu cơ sở vật chất, thiết bị và học cụ mô phỏng chuyên dụng; lo ngại mất an toàn khi cho trẻ thực hành tình huống; áp lực thời gian trong chế độ sinh hoạt một ngày; và thiếu các tài liệu hướng dẫn sư phạm chuẩn hóa.
- Thực trạng giáo dục tại gia đình: Cha mẹ trẻ rất quan tâm đến sự an toàn của con nhưng phương thức giáo dục chủ yếu mang tính can thiệp bảo bọc, làm giúp mọi việc hoặc cấm đoán, chưa chủ động tạo tình huống mô phỏng để rèn luyện phản xạ độc lập cho con trẻ tại nhà.
- Mức độ kĩ năng phòng tránh TNTT của trẻ 5 - 6 tuổi (khảo sát trên 90 trẻ): Kết quả khảo sát cho thấy kĩ năng của trẻ còn ở mức độ thấp đến trung bình:
- Điểm số KN1 (nhận diện nguy cơ) đạt mức tương đối khá ở các tình huống quen thuộc gần gũi, nhưng giảm mạnh khi gặp các tình huống phức tạp hoặc ở bối cảnh mới lạ.
- Điểm số KN2 (xử lý tình huống) và KN3 (chủ động thay đổi hành vi) còn rất hạn chế. Trẻ lúng túng khi phát hiện nguy cơ, thiếu phản xạ thông báo khẩn cấp đúng cách, chưa nhớ các số điện thoại cứu trợ và có xu hướng hoảng loạn hoặc thụ động chờ đợi người lớn can thiệp.
Chương 3: Tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua trải nghiệm mô phỏng và thực nghiệm sư phạm
Chương 3 đề xuất giải pháp sư phạm và tiến hành kiểm chứng:
-
Tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Chuẩn bị
- Xác định mục tiêu giáo dục bám sát chuẩn kĩ năng thành phần (kiến thức, thái độ, thao tác hành vi).
- Lựa chọn nội dung giáo dục tương ứng với các chủ đề trong năm học (Bản thân, Gia đình, Trường mầm non, Giao thông, Thế giới động vật...).
- Thiết kế kịch bản tình huống trải nghiệm mô phỏng đảm bảo tính chân thực, an toàn tuyệt đối và kích thích tính chủ động của trẻ.
- Chuẩn bị điều kiện môi trường vật chất (học cụ, đạo cụ, không gian) và môi trường tâm lý xã hội (tin cậy, khích lệ, không áp đặt).
- Giai đoạn 2: Tổ chức hoạt động giáo dục (Chu trình 4 bước)
- Bước 1: Tổ chức cho trẻ trải nghiệm tình huống phòng tránh TNTT. Trẻ tiếp xúc trực tiếp với tình huống mô phỏng (đóng vai, sa bàn, mô hình hóa lớp học), bộc lộ phản xạ và hành vi tự nhiên.
- Bước 2: Tạo cơ hội cho trẻ chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ, phản hồi kinh nghiệm. Giáo viên gợi mở để trẻ tự nói lên những gì đã quan sát, cảm nhận, những khó khăn và hành động mình đã xử lý trong tình huống.
- Bước 3: Hướng dẫn trẻ đúc kết kinh nghiệm, hình thành khái niệm. Giáo viên hướng dẫn trẻ phân tích đúng - sai, chuẩn hóa mẫu hành động an toàn, ghi nhớ nguyên tắc ứng phó cốt lõi.
- Bước 4: Tổ chức cho trẻ vận dụng kinh nghiệm vào những tình huống/hoàn cảnh mô phỏng khác nhau. Chuyển giao trẻ sang các bối cảnh mới với độ phức tạp nâng dần để trẻ củng cố và khái quát hóa kĩ năng.
- Giai đoạn 3: Đánh giá - Điều chỉnh
- Đánh giá sự tiến bộ của từng trẻ dựa trên 3 tiêu chí kĩ năng thành phần; ghi nhận những điểm chưa đạt để điều chỉnh kịch bản và biện pháp giáo dục phù hợp.
-
Các điều kiện vận dụng tiến trình: Luận án xác định 4 điều kiện cốt lõi: đảm bảo môi trường vật chất an toàn; kiến tạo môi trường tâm lý cởi mở; kịch bản mô phỏng phù hợp nhận thức lứa tuổi; và bảo đảm sự tham gia, phối hợp đồng bộ giữa giáo viên, gia đình và nhà trường.
-
Kết quả thực nghiệm sư phạm:
- Quy trình thực nghiệm: Triển khai qua 2 vòng tại Trường Mầm non Đồng Quang và Trường Mầm non Quyết Thắng (TP. Thái Nguyên). Nhóm thực nghiệm (TN) học theo tiến trình trải nghiệm mô phỏng đề xuất; nhóm đối chứng (ĐC) học theo các biện pháp giáo dục thông thường hiện hành.
- Kết quả trước thực nghiệm: Điểm đánh giá các kĩ năng thành phần giữa nhóm TN và ĐC tương đương nhau, không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$), phần lớn trẻ ở mức độ chưa đạt hoặc trung bình.
- Kết quả sau thực nghiệm: Nhóm TN có sự tiến bộ vượt bậc ở cả 3 kĩ năng thành phần so với trước tác động và vượt trội rõ rệt so với nhóm ĐC ($p < 0,01$). Đường đồ thị phân phối tần suất hội tụ tiến của nhóm TN lệch hẳn về phía điểm cao. Mức độ thành thạo và tính chủ động trong việc nhận diện nguy cơ, phát tín hiệu cấp cứu và điều chỉnh hành vi của trẻ nhóm TN tăng trưởng ổn định. Phân tích tương quan khẳng định 3 kĩ năng thành phần có mối liên hệ chặt chẽ và tương hỗ lẫn nhau trong tiến trình hình thành kĩ năng tổng thể.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về giáo dục kĩ năng phòng tránh TNTT cho trẻ mầm non thông qua phương thức trải nghiệm mô phỏng trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
- Xác định và chuẩn hóa cấu trúc kĩ năng phòng tránh TNTT của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi gồm 3 kĩ năng thành phần (nhận diện nguy cơ, xử lý tình huống, chủ động thay đổi hành vi), kèm theo hệ thống tiêu chí và chỉ báo hành vi có thể quan sát, đo lường được.
- Xây dựng hoàn chỉnh tiến trình sư phạm 3 giai đoạn kết hợp chu trình 4 bước trải nghiệm mô phỏng (Trải nghiệm tình huống $\rightarrow$ Chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ $\rightarrow$ Đúc kết kinh nghiệm $\rightarrow$ Vận dụng kinh nghiệm), tạo khung lý thuyết vững chắc cho hoạt động giáo dục kĩ năng sống mầm non.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp nguồn cứ liệu thực trạng toàn diện, cập nhật về nhận thức, năng lực tổ chức của đội ngũ GVMN và mức độ kĩ năng an toàn của trẻ 5 - 6 tuổi tại 17 trường mầm non thuộc 5 tỉnh Đông Bắc (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang).
- Đề xuất hệ thống các tình huống mô phỏng thực hành mẫu gắn liền với các chủ đề giáo dục trong chương trình GDMN hiện hành, có giá trị ứng dụng trực tiếp tại các cơ sở giáo dục.
- Là tài liệu chuyên môn có giá trị phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non và tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ GVMN tại các địa phương.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với các cấp quản lý giáo dục (Bộ, Sở, Phòng GD&ĐT): Cần ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết về giáo dục phòng tránh TNTT qua trải nghiệm mô phỏng; tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý và giáo viên; đầu tư bổ sung nguồn lực kinh phí và thiết bị, học cụ mô phỏng đạt chuẩn cho các trường mầm non, đặc biệt là các vùng khó khăn.
- Đối với các trường mầm non: Cần linh hoạt tích hợp tiến trình tổ chức hoạt động mô phỏng vào kế hoạch năm học; quy hoạch không gian sân chơi và lớp học an toàn nhưng giàu cơ hội trải nghiệm; thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, định kỳ với cha mẹ trẻ trong công tác rèn luyện hành vi an toàn cho trẻ.
- Đối với giáo viên mầm non: Chuyển đổi từ phương thức nhắc nhở, cấm đoán sang tổ chức cho trẻ tự trải nghiệm, xử lý tình huống giả định; thường xuyên quan sát, đánh giá sự tiến bộ của trẻ theo các tiêu chí hành vi rõ ràng; chủ động tự làm đồ dùng, học cụ mô phỏng phù hợp với từng chủ đề giáo dục.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về phạm vi địa bàn: Khảo sát thực trạng được thực hiện tập trung tại 5 tỉnh miền núi phía Đông Bắc, và địa bàn thực nghiệm sư phạm chỉ triển khai tại 2 trường mầm non thuộc thành phố Thái Nguyên, do đó tính đại diện cho các vùng miền có đặc thù địa lý, kinh tế - xã hội khác biệt (như vùng đồng bằng, đô thị lớn hoặc duyên hải) chưa thật sự toàn diện.
- Về mức độ mô phỏng: Các tình huống mô phỏng trong luận án chủ yếu khai thác ở mức độ đóng vai, mô hình hóa lớp học và sa bàn; việc ứng dụng công nghệ mô phỏng hiện đại (như thực tế ảo VR, phần mềm tương tác số) chưa được triển khai diện rộng do điều kiện trang thiết bị công nghệ tại các trường thực nghiệm còn nhiều giới hạn.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sang các vùng miền có điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội khác nhau trên cả nước nhằm kiểm chứng tính phổ quát của tiến trình giáo dục.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số và phần mềm mô phỏng 3D/thực tế ảo vào việc thiết kế các tình huống hiểm họa phức tạp (như động đất, bão lũ, hỏa hoạn nhà cao tầng) phù hợp với tâm sinh lý trẻ mầm non.
- Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đo lường chuẩn hóa kĩ năng an toàn dành cho các độ tuổi nhỏ hơn (nhà trẻ, mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi, mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi).
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ nét cho nhiều nhóm đối tượng hoạt động trong lĩnh vực khoa học giáo dục:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Giáo dục Mầm non, Giáo dục học: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng, quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm đối chứng và cách thức vận dụng lý thuyết học tập trải nghiệm vào lứa tuổi tiền học đường.
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Khung lý thuyết và các kĩ năng thành phần của luận án có thể sử dụng làm nội dung bài giảng cho các học phần Lý luận giáo dục mầm non, Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống, Quản lý an toàn trường học.
- Cán bộ quản lý và giáo viên mầm non: Cung cấp quy trình 3 giai đoạn và 4 bước tổ chức thực tế, giúp giáo viên có thể áp dụng ngay vào việc thiết kế giáo án các chủ đề năm học, chấm dứt tình trạng lúng túng khi xử lý các nội dung an toàn thân thể.
- Các nhà hoạch định chính sách giáo dục: Cung cấp cơ sở thực tiễn và số liệu khảo sát tin cậy để hoàn thiện các văn bản quy phạm về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích và điều chỉnh Chuẩn phát triển trẻ mầm non.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích của trẻ 5 - 6 tuổi gồm những thành phần nào?
Luận án xác lập cấu trúc gồm 3 kĩ năng thành phần gắn với các biểu hiện hành vi có thể đo lường:
- Kĩ năng nhận diện, phát hiện tình huống/yếu tố nguy cơ gây TNTT (thông qua quan sát, phát hiện bất thường bằng giác quan và phán đoán mức độ nguy hại).
- Kĩ năng xử lý khi phát hiện tình huống/yếu tố nguy cơ gây TNTT (thông báo khẩn cấp, tìm đối tượng hỗ trợ phù hợp, nhớ các số điện thoại khẩn cấp và cung cấp thông tin bản thân).
- Kĩ năng chủ động thay đổi hành vi bản thân nhằm ứng phó hiệu quả những tình huống gây TNTT cho bản thân và người khác (thực hiện theo chỉ dẫn an toàn, thao tác đúng quy trình khi dùng vật dụng, chủ động giảm thiểu nguy cơ và giữ bình tĩnh khi xảy ra sự cố).
2. Chu trình tổ chức cho trẻ trải nghiệm mô phỏng trong luận án gồm những bước nào?
Tiến trình tổ chức hoạt động giáo dục tại Giai đoạn 2 được vận hành theo chu trình 4 bước liên hoàn:
- Bước 1: Tổ chức cho trẻ trải nghiệm tình huống phòng tránh TNTT (tiếp xúc bối cảnh mô phỏng).
- Bước 2: Tạo cơ hội cho trẻ chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ, phản hồi kinh nghiệm (giãi bày nhận thức và hành vi vừa trải qua).
- Bước 3: Hướng dẫn trẻ đúc kết kinh nghiệm, hình thành khái niệm (chuẩn hóa kiến thức và mẫu hành vi an toàn).
- Bước 4: Tổ chức cho trẻ vận dụng kinh nghiệm vào những tình huống/hoàn cảnh mô phỏng khác nhau (khái quát hóa và rèn luyện kĩ năng sang bối cảnh mới).
3. Khảo sát thực trạng của luận án được thực hiện với quy mô và địa bàn như thế nào?
Khảo sát thực trạng được thực hiện trên quy mô diện rộng:
- Khảo sát 280 GVMN tại 17 trường mầm non trên địa bàn 5 tỉnh miền núi phía Đông Bắc: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang.
- Khảo sát đánh giá kĩ năng trực tiếp trên 90 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tại 3 trường mầm non đại diện: Trường Mầm non 19/5 (Thái Nguyên), Trường Mầm non Xuất Lễ (Lạng Sơn) và Trường Mầm non Hoa Hồng (Tuyên Quang).
4. Thực nghiệm sư phạm được triển khai ở đâu và ghi nhận kết quả ra sao?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường Mầm non Đồng Quang và Trường Mầm non Quyết Thắng (thành phố Thái Nguyên) từ tháng 9/2019 đến tháng 01/2020 qua 2 vòng thực nghiệm. Kết quả xử lý số liệu bằng kiểm định thống kê toán học cho thấy nhóm Thực nghiệm (được can thiệp theo tiến trình đề xuất) đạt kết quả phát triển kĩ năng vượt trội so với trước thực nghiệm và vượt trội so với nhóm Đối chứng một cách rõ rệt ở cả 3 kĩ năng thành phần ($p < 0,01$), khẳng định tính khả thi và hiệu quả của tiến trình.
5. Vì sao trải nghiệm mô phỏng lại phù hợp và cần thiết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi?
Trẻ 5 - 6 tuổi có kiểu tư duy phổ quát là trực quan hành động và trực quan hình tượng, kinh nghiệm sống còn ít ỏi nên không thể hình thành kĩ năng vững chắc qua các bài học thuyết trình bằng lời đơn thuần. Trải nghiệm mô phỏng tạo ra môi trường giáo dục an toàn tuyệt đối, loại bỏ hoàn toàn các rủi ro tổn thương thể xác thực tế nhưng tái tạo chân thực các dấu hiệu nguy hiểm, cho phép trẻ được quan sát, tập thử, sai sót và lặp lại thao tác ứng phó nhiều lần, từ đó chuyển hóa tri thức thành phản xạ hành vi tự giác và bền vững.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Huyền là công trình nghiên cứu chuyên khảo có cấu trúc khoa học chặt chẽ thuộc chuyên ngành Lí luận và lịch sử giáo dục. Bằng việc phối hợp linh hoạt giữa cơ sở lý luận của thuyết học tập trải nghiệm với các phương pháp nghiên cứu thực tiễn định lượng và thực nghiệm đối chứng, luận án đã xác lập thành công cấu trúc 3 kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cùng tiến trình giáo dục qua trải nghiệm mô phỏng 3 giai đoạn - 4 bước. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm phong phú lý luận giáo dục mầm non mà còn mang lại giải pháp sư phạm thực tế, nâng cao năng lực tự bảo vệ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trước các mối nguy cơ trong cuộc sống hàng ngày.