Mở đầu - Phần 2: Nội dung: gồm 3 chƣơng + Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh THPT tại trung tâm GDNN - GDTX + Chƣơng 2: Thực trạng về công tác giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh THPT tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Tri Tôn. + Chƣơng 3: Đề xuất các giải pháp giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh THPT tại Trung tâm GDNN - GDTX huyện Tri Tôn. - Phần 3: Kết luận và kiến nghị. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TẠI TRUNG TÂM GDNN - GDTX 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Ở nƣớc ngoài Giáo dục hƣớng nghiệp trên thế giới đã đƣợc ghi nhận qua những bài học kinh nghiệm quý báu từ cơ sở tích lũy qua nhiều năm thực tiễn. Hƣớng nghiệp xuất phát đầu tiên vào giữa thế kỹ XIX ở Châu Âu từ sự ra đời của cuốn sách “Hƣớng dẫn chọn nghề” vào năm 1848. Sau đó, vào những năm 1850 đến 1940 việc nghiên cứu hƣớng nghiệp gắn liền với những tác phẩm của các tác giả nhƣ Francis Galton, Wilheim Wundt, James Cattell, Alfred Binet, Frank Parson, Robert Yerkes và E.
Phần lớn các tác giả tập trung đề cập đến vấn đề tham vấn hƣớng nghiệp và trắc nghiệm ban đầu về hƣớng nghiệp. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu của các tác giả ở viện Hàn lâm khoa học giáo dục – Cộng hòa Dân chủ Đức nhƣ: Heinz Frankiewicz, B.Marschneider đã nêu lên sự phối hợp chặt chẽ giữa các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp với nhà trƣờng phổ thông trong công tác tổ chức cho học sinh thực tập tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất. Điều này cũng thu hút đƣợc nhiều tác giả ở Liên bang Đức chú ý khi nghiên cứu về việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông. Các tác giả đã đƣa ra đƣợc phƣơng pháp tổ chức nhƣ “phối hợp cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp với các trƣờng phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh phổ thông” [34, tr.
Tại Úc, giáo dục nghề nghiệp nhằm phát trển những kỹ năng, kiến thức và thái độ cho học sinh thông qua chƣơng trình học tập, chƣơng trình đƣợc kế hoạch hóa trong việc lựa chọn nghề có tính hƣớng nghiệp cho học sinh sau khi tốt nghiệp 6 phổ thông với các nhiệm vụ nhƣ: Học về bản thân trong mối quan hệ với lao động; Học về thế giới công việc; Học và làm kế hoạch ra quyết định về hƣớng nghiệp, lập nghiệp; Ứng dụng những quyết định về hƣớng nghiệp để chuyển dịch sang lao động. Nổi bật nhất là công trình nghiên cứu khoa học “Một số vấn đề về quản lý sự nghiệp giáo dục ở Australia” của Allan Walker cho thấy rằng, nhà trƣờng không chỉ là nơi dạy lý thuyết mà còn là nơi cung cấp thêm cho học sinh những kỹ năng trong thực tiễn nhƣ khả năng chuyển đổi, thích ứng với nghề nghiệp, giúp học sinh vừa có kiến thức và vừa có kỹ năng trong lao động nghề nghiệp [34]. Ở Ấn Độ, với sự phát triển bền vững trong hệ thống giáo dục Kỹ thuật và đào tạo Nghề, tuy Ấn Độ đã sở hữu một trong những nguồn nhân lực kỹ thuật lớn nhất trên thế giới, nhƣng so với dân số đất nƣớc hiện tại thì số lao động có kỹ thuật này không đáng kể. Ấn Độ cũng đã từng thực hiện tăng cƣờng giáo dục tổng hợp, với giáo dục hƣớng nghiệp ở khâu tiếp nhận.
Tuy nhiên, kết quả vẫn còn số lƣợng lớn bị thất nghiệp và tạo ra sự mất cân bằng trong lực lƣợng lao động có bằng cấp và lao động có trình độ thấp hơn [34]. Tại một số nƣớc khác nhƣ Đài Loan, Indonesia, Thái Lan luôn quan tâm đến giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh, cụ thể nhƣ [17, tr.21 - 22]: - Chính phủ Đài Loan luôn giành nhiều sự quan tâm cho giáo dục nƣớc nhà. Hệ thống giáo dục của Đài Loan bao gồm các thành tố: Giáo dục cơ bản, giáo dục phổ thông, giáo dục nâng cao và giáo dục định hƣớng. Sự phát triển đúng hƣớng của hệ thống giáo dục đã góp phần to lớn vào quá trình phân luồng học sinh.
Việc phân luồng sau tốt nghiệp THCS rõ rệt, chỉ có 20% số học sinh đƣợc vào học THPT, 80% còn lại sẽ vào học THPT tổng hợp hoặc học nghề. Việc mở ra các cơ hội, có định hƣớng theo năng lực, gắn đào tạo với cơ cấu nhân lực phù hợp với xã hội góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Đài Loan; - Ở Indonesia, hệ thống giáo dục đƣợc phân thành 2 luồng rõ rệt: Đào tạo theo hƣớng hàn lâm và đào tạo theo hƣớng thực hành. Chính phủ Indonesia quyết định giảm dần tỉ lệ HS sau trung học cơ sở vào trung học phổ thông và tăng dần tỷ lệ HS sau trung học cơ sở vào hệ trung học nghề. Nâng tỉ lệ phân luồng sau THCS năm 7 2007, tỉ lệ học sinh sau THCS vào học THPT 57% và 43% còn lại vào học các trƣờng trung học nghề ; - Hệ thống giáo dục của Thái Lan đƣợc chia thành 4 cấp: Giáo dục mẫu giáo, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học và giáo dục cấp cao.
Ở cấp trung học đƣợc chia thành 2 cấp, mỗi cấp học trong 3 năm. Chƣơng trình trung học cơ sở đặt trọng tâm vào trí thức đạo đức và các kỹ năng cơ bản. Chƣơng trình này nhằm giúp học sinh tự khám phá về sở trƣờng và sở thích của mình qua sự lựa chọn rộng rãi trong số các môn học cả về lý thuyết lẫn hƣớng nghiệp. Chƣơng trình trung học phổ thông có mục tiêu cung cấp kiến thức và kỹ năng phù hợp với lý thuyết và hƣớng nghiệp theo sở thích sở trƣờng của học sinh.
Các kiến thức và kỹ năng giúp cho HS tiếp tục học lên cao hoặc đi lao động. Chính phủ Thái Lan phân chia 50% số học sinh sau khi tốt nghiệp THCS học lên THPT và 50% còn lại chuyển sang học nghề sơ cấp và trung cấp. Sau khi tốt nghiệp HS đƣợc học lên cao đẳng nghề. Bên cạnh đó, công tác giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh và những vấn đề liên quan đến giáo dục nghề nghiệp đƣợc thể hiện qua các công trình nghiên cứu từ nhiều nhà khoa học khác nhƣ: - Theo Danielle Colardyn đã khẳng định, đào tạo nghề thƣờng xuyên trong khuôn khổ học tập suốt đời phải nhấn mạnh về đảm bảo chất lƣợng nhƣ: mỗi quốc gia phát triển theo cách tiếp cận riêng của mình về đảm bảo chất lƣợng; các liên kết giữa các tiêu chuẩn nghề nghiệp và các tiêu chuẩn đào tạo; các tiêu chí sẽ đƣợc trả lời bằng những câu hỏi khác nhau và sự cần thiết của bên thứ 3 để cung cấp đánh giá một cách khách quan [33].
- Theo tác giả Milagros Campos Valles, cho rằng để có đƣợc các kỹ năng trong nghề nghiệp hay môi trƣờng làm việc yêu cầu ngƣời làm phải có trách nhiệm và đạt kỳ vọng của môi trƣờng làm việc. Chìa khóa dẫn đến thành công chính là năng lực làm việc với ngƣời khác và điều chỉnh nó thích hợp đối với các tình huống khác nhau. Mặt khác, ngƣời làm cần phải trả lời các câu hỏi nhƣ: Liệu đã tuân thủ theo các thủ tục và tiêu chuẩn của nơi làm việc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ không? Hay, khả năng giao tiếp hiệu quả hay không, có để tâm đến doanh nghiệp và 8 các quy định hay không? [37, tr.3] Ngoài ra, theo nghiên cứu của tác giả Mohamad Hisyam Mohd. Hashim cho thấy, giáo dục hƣớng nghiệp đƣợc lồng ghép trong các lớp dạy nghề cho học sinh trung học.
Lớp dạy nghề là một loại hình mới trong hệ thống giáo dục của các nƣớc đang phát triển, đặc biệt là những nƣớc có dân số thấp và khu vực có hạn chế về đất đai. Đồng thời, các nƣớc này cũng đang thực hiện việc tổ chức chƣơng trình giáo dục trong các trƣờng trung học cho công dân và thanh thiếu niên trẻ tuổi của họ. Các phƣơng pháp định tính họ thƣờng sử dụng nhƣ phỏng vấn, phân tích tài liệu và quan sát để góp phần định hƣớng nghề nghiệp. Mặt khác, các thông tin, tài liệu sách hƣớng dẫn về các phƣơng pháp thực hành tốt nhất trên thế giới đƣợc lồng ghép trong giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh tại các trƣờng trung học, và đƣa những học sinh có cùng lứa tuổi vào các lớp nghề [35].
Nhìn chung, giáo dục hƣớng nghiệp đã xuất hiện trên nhiều quốc gia và thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới tham gia nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu từ các công trình cho thấy, để giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh, các trƣờng thực hiện chƣơng trình lồng ghép nội dung hƣớng nghiệp vào các lớp dạy nghề hay tổ chức kết hợp chặc chẽ giữa các trung tâm dạy nghề với trƣờng trung học giúp trang bị cho học sinh những kiến thức cũng nhƣ kỹ năng và thái độ làm việc đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt giúp ngƣời học định hƣớng đúng đắn trong lựa chọn nghề nghiệp trong các khóa học sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông hay đi vào đời sống nghề nghiệp. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu về giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh phổ thông trong trung tâm GDHN - GDTX còn hạn chế. Ở Việt Nam Vào những năm 80 của thế kỷ XX, các vấn đề liên quan đến công tác hƣớng nghiệp đƣợc nhiều tác giả trong nƣớc quan tâm nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau nhƣ các tác giả: Phạm Hoàng Gia, Lê Sơn, Phạm Tất Dong.
Trong đó, tác giả Phạm Tất Dong là ngƣời đầu tiên đặt nền móng cho việc thiết lập cơ sở lý thuyết về hƣớng nghiệp. Từ đó, cùng với chiến thắng của dân tộc giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nƣớc, công cuộc xây dựng CNXH đã đặt ra cho sự nghiệp giáo dục 9 nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất lƣợng cao góp phần vào việc khôi phục và phát triển kinh tế.