CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu Giáo dục học sinh cá biệt là một chủ đề nghiên cứu nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực giáo dục học, đạo đức học, tâm lý học. Học sinh với nhân cách hoàn thiện là sản phẩm của quá trình giáo dục, do vậy hoạt động giáo dục không cho phép tạo ra những sản phẩm lỗi, hư do vậy trước thực trạng còn có học sinh cá biệt ở trường phổ thông thì chủ đề nghiên cứu này chưa thể hết thu hút sự quan tâm của các học giả. Các công trình nghiên cứu và các tác giả trong và ngoài nước có nghiên cứu về vấn đề này được trình bày dưới đây. Ở nước ngoài Theo X.
Lebeder đưa ra 4 yếu tố gây ra những hành vi hư hỏng ở trẻ em gồm: Yếu tố thứ nhất là hoàn cảnh gia đình gây chấn thương tâm lý kéo dài; yếu tố thứ hai là thiếu sót trong giáo dục; yếu tố thứ ba là xung đột trường học chấn thương tâm lý cao; yếu tố thứ tư là bố mẹ nghiện rượu nặng [17]. Các nguyên nhân gây nên hư hỏng ở trẻ em trong nghiên cứu của X. Lebeder đều xuất phát từ gia đình và nhà trường, tác giả chưa đi vào phân tích các yếu tố do môi trường xã hội tác động nên. Trong nghiên cứu về nguyên nhân hành vi lệch chuẩn của học sinh trung học, Adrian D.Pearson đã chỉ ra và phân tích 3 nguyên nhân chính, chủ yếu nhất gây nên tình trạng này.
Theo đó, yếu tố quan trọng đầu tiên phải kể đến chính là do thiếu sự hỗ trợ giáo dục từ phía gia đình. Những gia đình phó mặc việc giáo dục con cái cho nhà trường, thiếu sự quan tâm, hỏi han và phối hợp trong công tác giáo dục con thì con của họ có nhiều nguy cơ rơi vào tình trạng có hành vi lệch chuẩn. Bên cạnh đó, những học sinh có tự trọng cá nhân ở mức thấp thường có khuynh hướng lệch chuẩn trong hành vi nhiều hơn so với học sinh có lòng tự trọng lớn. Và cuối cùng, thiếu sự kiểm soát của người thân và nhà trường cũng được xác định là nguyên nhân gây nên tình trạng học sinh lệch chuẩn [20].
Với góc nhìn khác, nghiên cứu này chủ yếu đề cao vai trò trách nhiệm của gia đình và cá nhân học sinh 6 Luan van trong việc ngăn chặn hành vi lệch chuẩn ở học sinh, trong khi đó yếu tố nhà trường chưa được thể hiện rõ nét. Tác giả Amber Carlson quan tâm nghiên cứu về ảnh hưởng cha mẹ đến hành vi lệch chuẩn của trẻ thanh thiếu niên. Trong nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra cha mẹ vừa có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hành vi của trẻ thanh thiếu niên. Theo đó, sự hỗ trợ, quan tâm của cha mẹ sẽ giúp con cái hình thành nên những hành vi tốt đẹp ở trẻ.
Bên cạnh đó, cha mẹ có ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi của trẻ thanh thiếu niên khác trong cộng đồng xã hội. Sự ảnh hưởng gián tiếp đó được thực hiện thông qua những đứa con của họ tham gia vào cuộc sống xã hội. Con của những cha mẹ ấy đã mang hành vi được định hình trong gia đình của mình thể hiện trong mối quan hệ giao tiếp cùng với bạn bè đồng trang lứa. Nghiên cứu này mang lại đóng góp lớn cho hệ thống pháp luật trước tình trạng trẻ em phạm pháp ngày càng phổ biến [22].
Luận án khoa học về Sự phát triển của hành vi lệch chuẩn trong trẻ thanh thiếu niên: ảnh hưởng của tính cách và môi trường trường học của tác giả Jessica Damron-Bell [31]. Nghiên cứu được tiến hành trên 15.299 học sinh trung học cơ sở và 16.390 học sinh trung học phổ thông ở Mỹ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra yếu tố giới tính, dân tộc và độ tuổi giúp dự đoán được khuynh hướng cá biệt trong học sinh. Chẳng hạn, học sinh nữ được nhìn nhận là có nhiều khả năng trở nên cá biệt hơn học sinh nam, học sinh da trắng trở nên cá biệt nhiều hơn học sinh nhóm thiểu số, học sinh lớn tuổi thường cá biệt hơn học sinh nhỏ tuổi.
Các biến số liên quan đến môi trường nhà trường như qui mô trường, cấp học, thành tích trường, trường có hay không cung cấp suất ăn trưa cho học sinh chưa thể hiện được sự ảnh hưởng đến hành vi lệch chuẩn của học sinh tuổi thanh thiếu niên. Nghiên cứu này đề cao việc xây dựng môi trường học đường lành mạnh. Trong môi trường đó thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên và học sinh có cảm giác gắn bó, thuộc về môi trường đó sẽ làm thúc đẩy học sinh rèn luyện, tránh xa những hành vi lệch chuẩn. Cũng nghiên cứu về học sinh cá biệt tuổi thanh thiếu niên, Harris, Duncan và Boijoly tập trung vào ảnh hưởng của các yếu tố xã hội và môi trường như gia đình, 7 Luan van bạn bè, nhà trường, cộng đồng và hệ thống niềm tin văn hoá đến hành vi lệch chuẩn của học sinh cá biệt [30].
Ngoài ra, việc nghiên cứu về học sinh cá biệt còn được tiếp cận dưới góc nhìn của các nhà lý thuyết học tập. Các lý thuyết học tập hướng vào việc xây dựng các mô hình nhằm phân tích các yếu tố xã hội và môi trường ảnh hưởng đến hành vi của học sinh cá biệt. Có thể kể đến Bronfenbrenner với lí thuyết sinh thái học cho sự phát triển con người đã giải thích bối cảnh đã ảnh hưởng đến sự phát triển của học sinh tuổi thanh thiếu niên Bronfenbrenner [26]. Lý thuyết học tập xã hội của Akers [21] và Bandura [23] đã chỉ ra rằng hành vi bị ảnh hưởng một cách trực tiếp từ môi trường.
Bandura [24, 25]) tiếp tục phát triển mô hình bao gồm các cấu trúc của kỳ vọng kết quả và sự tự tin vào năng lực bản thân. Hình mẫu giúp hình thành nên sự tự tin vào năng lực bản thân của mỗi cá nhân vì nếu mỗi cá nhân quan sát hình mẫu thể hiện sự thành công sẽ làm tăng sự tự tin trong cá nhân đó khi thể hiện lại các hành vi đã quan sát. Một mô hình khác của về Lý thuyết điều khiển xã hội của Hirschi [29] cũng đề cập đến hành vi lệch chuẩn của học sinh. Hirschi cho thấy rằng hành vi lệch chuẩn sẽ nảy sinh khi mối liên hệ giữa một cá nhân và xã hội bị suy yếu.
Ông khẳng định thêm rằng tiềm năng về hành vi phạm tội luôn tiềm ẩn mỗi cá nhân, chỉ những cá nhân ý thức việc tránh hành vi phạm tội thì mới không hành động phạm tội. Từ đó, Hirschi đề xuất mỗi cá nhân cần được gáio dục và duy trì mối quan hệ với người khác (bạn bè, gia đình) và các tổ chức (trường học). Có bốn yếu tố từ môi trường cuả trường trung học: (a) hỗ trợ học tập, (b) quản lý hành vi học đường, (c) hỗ trợ giáo viên, và (d) hỗ trợ của bạn học có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thanh thiếu niên trong những năm trung học bởi vì các yếu tố này phù hợp với nhu cầu phát triển năng lực và mối quan hệ của thanh thiếu niên Connell & Wellborn [27]. Các nghiên cứu thực nghiệm khác chứng minh rằng nhận thức của sinh viên về sự hỗ trợ học tập, quản lý hành vi, sự hỗ trợ của giáo viên và hỗ trợ bạn học có liên quan chặt chẽ đến sự điều chỉnh hành vi của họ [32].
Hỗ trợ học tập đề cập đến mức độ nhà trường chú trọng và tạo ra một môi trường học tập hỗ trợ với những kỳ 8 Luan van vọng học tập cao và nhiều cơ hội để củng cố. Học sinh cảm nhận được sự hỗ trợ học tập mạnh mẽ ở trường thường có xu hướng được khuyến khích về mặt học thuật và có ít vấn đề về hành vi hơn. Ngược lại, học sinh gặp những thất bại lặp đi lặp lại trong học tập có cảm nhận trường học của họ thiếu sự quan tâm, hỗ trợ do đó làm giảm cam kết của học sinh đối với thành tích học tập cao, động lực học tập tốt và làm thúc đẩy hành vi có vấn đề về trường học. Vấn đề quản lý hành vi học sinh của trường trung học công lập cũng nhận được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu.
Các trường có quy tắc, kỷ luật rõ ràng, nhất quán và người lớn đối xử với học sinh một cách công bằng thì học sinh ít gặp phải các vấn đề về hành vi cá biệt [28]. Cuối cùng, chất lượng các mối quan hệ giữa các cá nhân trong nhà trường, bao gồm cả giáo viên – học sinh và mối quan hệ giữa học sinh – học sinh đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển các hành vi của học sinh. Nếu học sinh cảm nhận được thái độ hỗ trợ, đáp ứng và chăm sóc từ phía giáo viên họ có thành tích học tập tốt hơn và ít vấn đề về hành vi hơn [33]. Tương tự, mối quan hệ bạn bè có thể nuôi dưỡng hoặc làm suy yếu sự phát triển về mặt xã hội và tình cảm của thanh thiếu niên.
Sự chấp nhận và các tương tác tích cực từ bạn bè đã có mối liên ngược với các hành vi và tình cảm lệch chuẩn của thanh thiếu niên [34]. Theo quan điểm giáo dục trong lao động của nhà giáo dục đầu tiên Makarenkô, ông cho rằng, lao động không những là mục đích giáo dục mà còn là phương tiện giáo dục. Qua nghiên cứu của ông, nhiều trẻ hư hỏng, tội lỗi đã được cải tạo về tư tưởng và về sau trở nên những nhà chuyên môn giỏi, công nhân lành nghề, bác sĩ, kỹ sư, phi công, bác học. Ngoài ra, quan điểm của ông không chỉ những trẻ hư hỏng cần được cải tạo trong lao động mà trẻ bình thường cũng cần được giáo dục trong lao động [19].
Như vậy, có thể thấy học sinh có hành vi cá biệt, hành vi lệch chuẩn luôn nhận được sự quan tâm của các các nhà nghiên cứu phương Tây. Các nhà nghiên cứu quan tâm chủ yếu đến học sinh lứa tuổi thanh thiếu niên vì ở lứa tuổi này các em có nhiều biến đổi tâm sinh lí trong thời kì khủng hoảng nên dễ sa vào các vấn đề về hành vi. 9 Luan van Các tác giả tập trung sự quan tâm chủ yếu đến việc phân tích mối quan hệ xã gia đình, nhà trường và xã hội ảnh hưởng đến hành vi cá biệt của học sinh.