CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm công cụ: - Giới tính (sex) là một khái niệm xuất phát từ môn sinh vật học chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người và di truyền nòi giống. - Giáo dục giới tính là giúp cho trẻ hiểu về mặt giải phẫu sinh học các cơ quan sinh dục cũng như các chức năng của cơ quan sinh dục.
- Sức khỏe sinh sản: Hội nghị về Dân số và Phát triển của Liên Hiệp Quốc tại Cairo, Ai Cập năm 1994 đã định nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau: “Sức khỏe sinh sản là sự toàn diện, thoải mái không chỉ về thể chất, tinh thần, mà cả về xã hội. Đây không chỉ là tình trạng bộ máy sinh sản không có bệnh tật, không bị bất lực mà còn là tiến trình hoạt động của bộ máy này với đầy đủ các chức năng. Do đó, sức khỏe sinh sản cũng có nghĩa la con ngưới có thể sinh hoạt tình dục tự do và an toàn; tự do quyết định khi nào có con và khoảng cách giữa các lần sinh. - Trẻ em: Theo quốc tế trẻ em có độ tuổi từ 0 – 18 tuổi Ở Việt Nam trẻ em có độ tuổi từ 0 – 16 tuổi Trong nghiên cứu này, những đối tượng từ 0 – 18 tuổi được xem là trẻ em, nhưng do nhiều yếu tố tác động nên nhóm tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu những trẻ ở độ tuổi từ 10 – dưới 18 tuổi.
- Nhập cư: là sự di chuyển từ vùng này đến vùng khác, có thể là từ các địa phương khác nhau trong một đất nước, cũng có thể là từ quốc gia này đến quốc gia khác. Người nhập cư thường là những người di chuyển nơi sống để phù hợp với công việc. Trong đề tài này theo nhóm tác giả, trẻ nhập cư có thể đi cùng gia đình 19 hoặc một mình lên thành phố kiếm sống vì điều kiện kinh tế ở quê khá thấp; và hầu hết là trẻ gặp hoàn cảnh khó khăn, ít có cơ hội đến trường. - Vấn đề nguy cơ: Theo nhóm tác giả đó là những rủi ro xấu có thể xảy ra với con người do sống trong môi trường mang nhiều yếu tố nguy cơ và bản thân đối tượng tấn công của các yếu tố nguy cơ không được trang bị đầy đủ những kiến thức, kĩ năng để chống lại những nguy cơ đó.
Câu hỏi nghiên cứu: - Thực trạng hiểu biết của việc giáo dục giới tính của trẻ nhập cư? - Thực trạng của việc giáo dục giới tính? Những thuận lợi và khó khăn. - Sự quan tâm của cá nhân và các tổ chức xã hội, chính quyền địa phương đối với việc giáo dục giới tính như thế nào? - Những nguy cơ đã và có thể xảy ra cho trẻ khi không có những hiểu biết đúng đắn về giới tính và những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản. Giả thuyết nghiên cứu: Nhóm nghiên cứu đưa ra các giả thiết sau: - Trẻ em nhập cư trước và trong lứa tuổi vị thành niên thiếu hiểu biết về sức khỏe giới tính và ngại khi nhắc tới vấn đề này. - Gia đình và chính đối tượng trẻ chưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính cho trẻ em - Việc giáo dục giới tính cho trẻ em thuộc đối tượng cuộc nghiên cứu này còn rất ít và chưa đạt được hiệu quả.
- Việc quan tâm đến sự phát triển giới tính và giáo dục giới tính cho trẻ đặc biệt trẻ nhập cư là quan trọng và cần thiết. Thực trạng giáo dục giới tính: 1.1 Trên thế giới: Hiện nay, trên thế giới, việc giáo dục giới tính cho trẻ em đã không còn là điều gì mới mẻ. thực tế các chương trình giáo dục giới tính đã trở thành một 20 chương trình giáo dục có hệ thống dành cho mọi lứa tuổi và mọi vùng miền. Có mặt sớm nhất và cũng đa dạng nhất là các chương trình giáo dục giới tính tại các nước phát triển; các nước đang phát triển cũng đang dần cố gắng bắt kịp.
Bên cạnh đó, các nước kém phát triển thì lại nhận được sự hỗ trợ từ phía các tổ chức quốc tế trong việc xây dựng chương trình giáo dục giới tính nhằm cân bằng mức độ tiếp cận các kiến thức về giới tính, y tế của người dân trên các châu lục.1 Châu Phi: Giáo dục giới tính ở châu lục này tập trung vào việc đẩy lùi đại dịch AIDS. Hầu hết các chính phủ ở đây đều cố gắng thiết lập những chương trình giáo dục về AIDS hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các tổ chức phi chính phủ (NGOs). Những chương trình này dạy cho họ và con em của họ các cách “ABC” để phòng chống AIDS. Đó là: A (abstinence) - Kiêng khem, B (Be faithful) - Chung thủy và C (Condom) - Dùng bao cao su và nó đã có những tín hiệu đáng mừng.
Các nước Châu Phi thường chú ý giáo dục cho trẻ khi trẻ bước vào độ tuổi từ khoảng 12 tuổi trở lên, trẻ được từng bước trang bị các kiến thức về giới tính từ đơn giản đến phức tạp, và việc này được diễn ra trong môi trường nhà trường. Châu Âu: Các nước Châu Âu có thể nói là đi đầu trong việc giáo dục giới tính cho trẻ. Đây là châu lục được cho là phát triển và hiện đại về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội nhưng vẫn giữ các giá trị văn hóa truyền tống nền tảng. Ở các nước này, giáo dục giới tính dường như là môt chương trình được xem là bắt buộc trong trường học; trẻ được học về giới tính từ rất sớm thông qua các bộ môn sinh học và sau đó nâng cao dần thành một môn học riêng biệt về sức khỏe sinh sản.
Hầu hết là do chính phủ chăm lo và trang bị về vật chất. Trẻ em ở các nước này được trang bị khá đầy 21 đủ các kiến thức về vấn đề này (về mặt sinh học, về mặt tình cảm, và cả các vấn đề tình dục, phòng chống xâm hại), được trang bị bao cao su, thuốc tránh thai, được nghe những câu chuyện, các bộ phim và tình cảm. Và chính nhờ sự giáo dục một cách khoa học như vậy nên tỉ lệ sinh trong độ tuổi vị thành niên là rất thấp. Ví dụ như: tỷ lệ sinh trong thanh niên 15- tới 19-tuổi tại Anh Quốc là 27.8 trên 1,000 người; tại Đức là 11,7 trên 1000 dân.
Một số nước đi đầu trong việc giáo dục giới tính như: Phần Lan, Hà Lan, Pháp, Đức, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh Quốc Song bên cạnh đó vẫn còn một số nước còn gặp khá nhiều những khó khăn trong quá trình thực hiện việc giáo dục giới tính trong trường học, như: Ba Lan. Và những khó khăn mà các quốc gia gặp phải trong quá trình thực hiện việc giáo dục giới tính, hầu hết là từ phía gia đình của trẻ. Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các bậc phụ huynh không mong muốn con mình tiếp xúc với những vấn đề này quá sớm; nhưng nhờ có nhiều nghiên cứu đã chứng minh, được giáo dục giới tính từ nhỏ sẽ giúp trẻ tránh được nguy cơ bị xâm hại, cũng như những vấn đề về tâm sinh lý. Như nghiên cứu của giáo sư người Hà Lan, ông Brett van den Andrews, một nhà khoa học nghiên cứu ngành y tốt nghiệp từ ISHSS (International School for Humanities and Social Sciences) , đã cho rằng việc cho trẻ em trong độ tuổi 4– 7 tiếp xúc với giáo dục giới tính có thể làm giảm đáng kể nguy cơ về mang thai sớm hay sức khoẻ trong tương lai.
Đồng thời những áp lực từ phía chính phủ đối với cha mẹ của trẻ đã giúp cho quá trình thực hiện công tác giáo dục giới tính đạt được những thành công lớn. Phương pháp giáo dục giới tính mà hầu hết các nước châu Âu thực hiện là phương pháp sử dụng các tranh ảnh, phim hoạt hình minh họa lại nội dung học. nhờ đó các em ít ngượng ngùng và thích thú hơn. Bên cạnh đó, ở một số nước như Anh, Pháp, đang có sự tranh cãi lớn từ phía phụ huynh học sinh và bộ giáo dục về vấn đề giáo dục giới tính.
Giáo án của các chương trình giáo dục này được thiết kế theo dạng tranh ảnh hoạt hình sinh 22 động nhằm thu hút và gần gũi với trẻ em. Tuy nhiên những hình ảnh này được nhiều bậc phụ huynh cho là lộ liễu và không phù hợp với trẻ. Có thể thấy, chú trọng đến nhu cầu giáo dục giới tính cho trẻ em là quan trọng nhưng chú trọng đến phương pháp giáo dục cũng là một vấn đề cần đặt ra cho các nước thuộc châu lục này. Bắc Mỹ Hoa Kỳ Hầu hết học sinh Hoa Kỳ đều nhận được một hình thức giáo dục giới tính ít nhất một lần trong khoảng từ lớp 7 đến lớp 12; nhiều trường bắt đầu đề cập tới một số chủ đề ngay từ lớp 5 hay lớp 6.
Hai hình thức chính của giáo dục giới tính được dạy trong các trường Mỹ: toàn diện và chỉ nói về kiêng khem. Giáo dục giới tính toàn diện coi việc kiêng khem là một lựa chọn tích cực, nhưng cũng dạy về tránh thai và tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục khi có hoạt động tình dục. Một cuộc nghiên cứu năm 2002 do Quỹ Gia đình Kaiser tiến hành thấy rằng 58% học sinh phổ thông miêu tả nội dung chương trình giáo dục giới tính của mình là toàn diện. Giáo dục giới tính kiêng khem nói với trẻ vị thành niên rằng chúng cần kiêng tình dục cho tới khi lập gia đình và không cung cấp thông tin về tránh thai.
Trong cuộc nghiên cứu của Kaiser, 34% học sinh các trường trung học nói chủ đề chính tại trường của mình là giáo dục kiêng khem. Phương pháp giáo dục mà nước này đưa ra là một chương trình giáo dục giới tính kết hợp kĩ năng sống như: tình yêu, tình bạn, các giá trị hạnh phúc, trách nhiệm trong tình dục… Đồng thời, giáo án cũng được thiết kế cẩn thận cho phù hợp với từng độ tuổi khác nhau. Ví dụ như ở cấp 1 thì tìm hiểu về các bộ phận cơ 23 thể và giá trị bản thân, cấp 2 là sự thay đổi cơ thể tuổi dậy thì, thu hút giới tính, cấp 3 là tình dục và các biện pháp an toàn… 1. Châu Á Tình trạng các chương trình giáo dục giới tính ở châu Á đang ở những mức độ phát triển rất khác nhau.
Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc có khung chính sách hệ thống về việc giảng dạy giới tính trong các trường học.