Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 1.1 Gia đình và chức năng cơ bản của gia đình 1.1 Khái niệm gia đình Thời đại nào cũng vậy, hai từ gia đình thường được nhắc đến với những gì ngọt ngào nhất, trân trọng nhất. Gia đình được coi là tổ ấm, cái nôi thân yêu, trường học đầu tiên của mỗi người, tế bào của xã hội. Gia đình là một phạm trù mang tính lịch sử, thay đổi và phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển của lịch sử. Vì vậy, từ xưa đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845), khi luận chứng về những điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại của con người, C.Mác đã coi gia đình là nơi tái tạo con người, duy trì sự trường tồn của xã hội: “Hàng ngày tái tạo ra đời sống bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [12, tr. Với quan niệm này, khái niệm gia đình được làm rõ: Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã hội loài người. Con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân mình thì đồng thời cũng tạo ra gia đình. Thứ hai, chức năng chính của gia đình là tái tạo ra con người.
Thứ ba, gia đình được tạo ra bởi hai mối quan hệ: hôn nhân và huyết thống. Đồng thời khái niệm “gia đình” còn luôn gắn liền với khái niệm “xã hội”, trong đó gia đình được xem là tế bào của xã hội. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884), Ph.Ăngghen đã phân tích mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội: “Nhân tố quyết định nhất trong lịch sử, quy đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng, sản xuất đó, bản thân nó lại có hai loại.
Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: ra thức ăn, quần áo và nhà cửa và những 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sản xuất ra bản thân con người, là truyền nòi giống. Những trật tự xã hội, trong đó con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất đó quyết định: một mặt do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là trình độ phát triển của gia đình” [13, tr. Như vậy, theo Ăngghen các mô hình gia đình trong lịch sử luôn gắn với phương thức sản xuất và chế độ xã hội xác định. Sự vận động, biến đổi của gia đình gắn liền cùng với sự vận động biến đổi của lịch sử xã hội.
Lịch sử đã chứng minh rằng, trong quá trình vận động của mình, mỗi hình thái kinh tế - xã hội có những hình thức gia đình tương ứng. Ngày nay, quan niệm về gia đình đã có nhiều thay đổi, tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc đã lấy năm 1994 là năm Quốc tế gia đình và thống nhất khẳng định: Gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một đơn vị kinh tế của xã hội. Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại cần được giữ gìn và phát huy. Trên tinh thần đó, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về gia đình: Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng chung sống và có ngân sách chung.
Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc cũng nhấn mạnh rằng, trên thực tế đặc điểm của các thể chế gia đình hiện nay là tính đa dạng của nó. Gia đình là một thể chế có tính toàn cầu, thể chế đó lại có hình thái khác nhau và thực hiện các chức năng của nó một cách khác nhau. Ở Việt Nam, gia đình ra đời trên cơ sở một nền văn hóa và truyền thống xã hội đặc thù. Gia đình Việt Nam trong lịch sử được nghiên cứu dưới rất nhiều góc độ khác nhau.
Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống, sống chung cùng một nhà” [80, tr. Trong luật Hôn nhân và Gia đình, khái niệm gia đình được giải thích như sau: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của luật này”[49, tr. Chỉ thị của Ban Bí thư số 49 – CT/TW “Về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc” [ 4 ]. Theo tác giả Lê Thi: “Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống, nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà nội, ngoại).
Đồng thời gia đình cũng bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống. Các thành viên trong gia đình về trách nhiệm và quyền lợi (kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có nhiều ràng buộc có tính pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong luật hôn nhân và gia đình nước ta). Đồng thời, trong gia đình có những nhận định rõ ràng về quyền được phép và cấm đoán về quan hệ tình dục giữa các thành viên” [72, tr. Với những quan niệm này, tác giả đã xem gia đình như một nhóm tâm lý tình cảm xã hội đặc thù, là một thiết chế xã hội.
Gia đình được kết cấu, duy trì, củng cố bởi các quan hệ nội tại giữa các thành viên, bắt nguồn từ các quan hệ huyết thống ruột thịt và quan hệ tình cảm. Ở một góc độ khác, tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý lại quan niệm: “Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái. Các mối quan hệ gia đình còn được gọi là quan hệ họ hàng. Đó là những sự liên kết ít nhất cũng là hai người dựa trên có sở huyết thống, hôn nhân và 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc nhận nuôi con.
Những người này có thể sống cùng hoặc khác mái nhà với nhau” [ 37, tr. Những định nghĩa trên, cho thấy, có ba mối quan hệ cơ bản tạo thành gia đình, đó là quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên. Quan hệ hôn nhân là quan hệ tính giao giữa nam và nữ được pháp luật thừa nhận, liên kết với nhau cùng chung sống và xây dựng gia đình hạnh phúc. Đây là quan hệ cơ bản đầu tiên cần phải có của mỗi gia đình, nó chính là tiền đề cho các mối quan hệ khác.
Quan hệ huyết thống là mối quan hệ ràng buộc giữa cha mẹ với con cái, là hệ quả của hôn nhân. Ngoài ra nó còn là sự gắn bó giữa anh chị em ruột với nhau. Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa chủ thể nuôi dưỡng và đối tượng được nuôi dưỡng. Họ gắn bó với nhau không chỉ vì trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi được pháp luật thừa nhận, bảo vệ mà cao hơn cả là tình thương yêu, sự chăm sóc, đùm bọc, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống.
Như vậy, có thể thấy rằng nghiên cứu về gia đình nói chung, định nghĩa về gia đình nói riêng còn nhiều vấn đề cần tìm hiểu thêm. Căn cứ theo quan niệm xã hội và pháp luật hiện hành, tác giả luận văn mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình về gia đình như sau: Gia đình là một cộng đồng người đặc biệt được hình thành, phát triển và củng cố bởi các mối quan hệ cơ bản là hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Các thành viên của gia đình có những giá trị vật chất, tinh thần chung, gắn bó với nhau bởi trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ nhằm mục tiêu cao nhất là nuôi dưỡng các thành viên, xây dựng gia đình bền chặt, phát triển kinh tế gia đình. * Đặc điểm của gia đình Căn cứ vào định nghĩa của các tổ chức và các nhà nghiên cứu đã nêu.
Theo tác giả, gia đình một số đặc điểm như sau: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, số lượng thành viên trong gia đình phải có ít nhất là hai người trở lên (hay còn nói gia đình là nhóm người, hoặc là cơ cấu xã hội thu nhỏ, một tập hợp người, …) vì nếu chỉ có một người thì không thể gọi là gia đình. Thứ hai, trong gia đình phải có ít nhất một trong ba quan hệ: hôn nhân hoặc huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Nếu không có một trong ba quan hệ này thì không thể gọi đó là gia đình. Thứ ba, các thành viên trong một gia đình phải yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ nhau, có trách nhiệm đối với nhau.
Đây là đặc trưng quan trọng nhất của một gia đình đúng nghĩa. Vì họ là thành viên của một cơ cấu duy nhất, giữa họ tồn tại mối quan hệ vật chất và tinh thần bền vững: có cùng mục đích và nguyên tắc sống, cùng tham gia kế hoạch gia đình và điều quan trọng hơn cả là họ có quan hệ huyết thống chung. Đó là yếu tố tạo nên sự bền vững của gia đình. Ngoài ra, gia đình còn một số đặc điểm khác, chẳng hạn như: chung một chỗ ở ( nơi cư trú, một nhà); chung ngân sách.
Tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình mà các tiêu chí có thể thay đổi để thích ứng với cuộc sống hiện đại, nhưng dù thay đổi như thế nào thì gia đình cũng phải đảm bảo được ba đặc điểm nêu trên.