MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Giáo dục đạo đức cho con người nói chung, cho các đối tượng là học sinh nói riêng, là vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa lâu dài nhằm tạo ra những con người “vừa hồng vừa chuyên” mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đề cập tới. Chữ “hồng” ở đây chỉ đạo đức của con người luôn đặt lợi ích cộng đồng, dân tộc lên trên hết, Người gọi đó là đạo đức cách mạng. Theo Người: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống.
Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr. Trong cuộc đấu tranh đó, cái khó nhất là đấu tranh với chính bản thân mỗi con người, là quá trình tự tu, tự hoàn thiện đòi hỏi tính tự giác của mỗi người rất cao. Tuy nhiên, trong quá trình vận động hoàn thiện nhân cách con người, chúng ta đều biết một điều chắc chắn rằng, không thể thiếu sự giáo dục, tức là sự xã hội hóa từ bên ngoài để nhân cách được hình thành một cách đầy đủ hơn.
Với lẽ đó, việc giáo dục đạo đức luôn đòi hỏi sự thống nhất hữu cơ giữa nhà trường, gia đình và xã hội vì những mục tiêu được xác định theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước. Về vấn đề này, Bác Hồ cũng từng khẳng định: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn (Hồ Chí Minh, 2011, tập 10, tr. Người còn nhấn mạnh rằng: “Trường đại học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 9, tr.
Trong thời gian qua, đặc biệt là từ khi Đảng ta chủ trương hội nhập quốc tế và phát triển đất nước, vấn đề giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong 2 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. Điều đáng tiếc là, dù quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta rất cao, song thành tựu đạt được trong lĩnh vực giáo dục lại không được như mong muốn. Thực trạng nền giáo dục từ khi đổi mới đến nay vẫn loay hoay với việc tìm kiếm triết lý giáo dục mới và trên thực tế chưa có đáp án nào thỏa mãn yêu cầu về nội dung và phương pháp dạy và học.
Một quan điểm được thừa nhận phổ biến hiện nay cho rằng, về phương diện giảng dạy, chúng ta chỉ chú trọng “dạy chữ” mà ít “dạy người”. Ngay cả việc “dạy chữ” cũng không đáp ứng được yêu cầu, nặng về lý thuyết và thiếu suy lý, thiếu thực tiễn. Việc “dạy người” lại để xảy ra các hiện tượng phản nhân văn, đạo đức ngay trong học đường chứ chưa nói đến ngoài xã hội. Với thực tế yếu kém như vậy của nền giáo dục nước nhà thì việc tìm triết lý giáo dục mới cho đất nước ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Và, trong cuộc tìm kiếm đó, theo chúng tôi, phải nhất thiết đứng trên lập trường của triết học chủ nghĩa Mác – Lênin về kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống trong giáo dục của đất nước qua hàng trăm năm. Là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á vốn chịu ảnh hưởng khá sâu đậm học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, cho nên hệ thống giáo dục truyền thống và đi kèm với nó là khoa cử nước ta từ thời Bắc thuộc đều mang đậm dấu ấn của Nho giáo. Đặc biệt từ thời Lý, với những sự kiện “Tu Văn Miếu” (1070), mở khoa thi đầu tiên (1075) và dựng Quốc Tử Giám (1076) đã tạo đà cho nền giáo dục – khoa cử của đất nước dần đi vào khuôn khổ và nhờ đó mà nhà nước phong kiến trải qua hàng thế kỷ đã đào tạo và lựa chọn nhân tài cho bộ máy cai trị của mình. Các hình thức tổ chức giáo dục dần phát triển và ngày càng qui củ hơn, kéo theo đó là những nội dung và hình thức giáo dục lấy Nho học làm nền tảng được định hình.
3 Tuy nhiên, ngoài các hình thức tổ chức trường lớp ở trung ương và địa phương, chúng ta còn biết đến một hình thức giáo huấn hết sức quan trọng, nó góp phần củng cố chế độ phong kiến hiện hữu và được coi là hình thức giáo dục đầu tiên, đầu đời cho con trẻ, đó chính là gia huấn với nhiều thể loại khác nhau như gia huấn ca, gia huấn diễn ca, cư gia khuyến giới tắc, v.v… Gia huấn Việt Nam trong lịch sử được hình thành khá sớm do nhu cầu về giáo dục của đất nước qua các giai đoạn lịch sử cụ thể. Tuy lấy tư tưởng giáo dục Nho giáo làm cơ sở, lấy các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em làm đối tượng cơ bản, song ở đó chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy những nội dung và phương pháp của Nho học được Việt hóa, phù hợp với đối tượng giáo dục và mục tiêu giáo dục của nhà nước phong kiến. Đặc biệt, với trẻ em, những người nhận được sự quan tâm giáo dục đầu đời, thì việc uốn nắn những hành vi đạo đức, điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp với các mối quan hệ xã hội, là nhân tố giáo dục hết sức có ý nghĩa, nó góp phần hình thành nên ý thức chính trị - đạo đức, thông qua đó phát triển nhân cách con người một cách hiệu quả. Xuất phát từ quan điểm “ôn cố tri tân” của Nho giáo, từ quan điểm của triết học chủ nghĩa Mác – Lê nin về kế thừa biện chứng các giá trị truyền thống và quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục đất nước trong điều kiện hiện nay, chúng tôi chọn “Nội dung cơ bản của một số gia huấn Việt Nam trong lịch sử và bài học lịch sử của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay” qua hai bản “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca” làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình với hy vọng tìm lại và nghiên cứu một loại hình tư liệu dường như đang bị mai một là các bản gia huấn để góp phần xây dựng một triết lý giáo dục của đất nước phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước ta hiện nay.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung, lịch sử tư tưởng giáo dục Việt Nam nói riêng, là lĩnh vực được nhiều học giả quan tâm. Tuy nhiên, trong lịch sử tư tưởng giáo dục, mảng giáo huấn mà cụ thể là gia huấn ít được quan tâm bởi nhiều người cho rằng, gia huấn là hình thức giáo dục trong lịch sử phong kiến ít nhiều đã được đề cập tới trong các công trình đã được công bố. Trên thực tế, gia huấn là nguồn tư liệu khá phong phú nhưng nó chưa được xuất bản nhiều, do đó trong luận án này, chúng tôi tạm phân định thành ba hướng nghiên cứu cơ bản có liên quan tới đề tài của mình như sau: 1. Những nghiên cứu về điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự hình thành các bản gia huấn Việt Nam trong lịch sử 1.
Những công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX Nghiên cứu bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kỳ này phải kể đến công trình Đại cương lịch sử Việt Nam do Đinh Xuân Lâm chủ biên, Nxb Giáo dục ấn hành, tập 1 năm 1998 và tập 2, năm 2003. Tuy là công trình đại cương, song có thể nói, các tác giả đã trình bày khá cô đọng những sự kiện lịch sử, tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa giáo dục, v. Đây là công trình được chúng tôi quan tâm sử dụng vào việc phân tích bối cảnh lịch sử và những tiền đề cơ bản cho sự ra đời các gia huấn, cụ thể là Bùi gia huấn hài (cuối thế kỷ XVIII) và Gia huấn diễn ca (đầu thế kỷ XX). Công trình của Văn Tạo về, Phương thức sản xuất châu Á Lý luận Mác – Lê nin và thực tiễn Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội 1996, đề cập đến các quan điểm của C.Mác về phương thức sản xuất châu Á trong sự liên quan đến các yếu tố truyền thống của phương Đông.
Chúng tôi nhận thấy ở công trình này có một số vấn đề liên quan giữa phương thức sản xuất mà C.Mác đề cập có thể suy luận được về nguyên nhân ra đời của các gia huấn mà ở đó, tư tưởng giáo dục Nho giáo được 5 coi là chủ đạo, chi phối lối sống, phong cách tư duy của con người Việt Nam trong lịch sử. Một trong những nội dung cơ bản của các gia huấn đề cập đến “lịch sử nước Nam ta” và Trung Quốc, do đó cuốn Lịch sử Trung Quốc của Nguyễn Gia Phu và Nguyễn Huy Quý, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003, là công trình có liên quan đến nghiên cứu của luận án. Tuy được trình bày với dung lượng trang sách khá khiêm tốn, song những nội dung của cuốn sách đã cung cấp cho chúng ta bức tranh chung về lịch sử đất nước Trung Quốc từ Cổ đại đến Cận hiện đại; làm cơ sở để đối chiếu với nội dung sử học được trình bày vắn tắt trong hai bản gia huấn mà luận án này đề cập tới. Những công trình nghiên cứu liên quan đến tiền đề lý luận cho sự hình thành các gia huấn trong lịch sử a.
Về văn hóa và tư tưởng truyền thống Trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước về cơ sở văn hóa Việt Nam, có thể kể đến cuốn sách do Trần Quốc Vượng chủ biên nhan đề: “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000. Trong đó, các tác giả đề cập đến khái niệm văn hóa và diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam; các vùng văn hóa và vai trò của văn hóa trong điều kiện hội nhập và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay.