Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Triết học với đề tài "Nội dung cơ bản của một số bản gia huấn trong lịch sử Việt Nam và bài học lịch sử của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Trần Phan Ngọc Bích thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Nguyên Việt, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 (chuyên ngành Triết học, mã số: 9229001).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Vấn đề giáo dục đạo đức cho con người nói chung và thế hệ học sinh nói riêng là nội dung có ý nghĩa chiến lược lâu dài nhằm xây dựng những con người phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực theo định hướng "vừa hồng vừa chuyên" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong quan điểm của Người, đạo đức cách mạng không phải là yếu tố tự nhiên có sẵn mà là kết quả của quá trình rèn luyện bền bỉ hàng ngày, kết hợp chặt chẽ giữa ba môi trường: gia đình, nhà trường và xã hội.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Tuy nhiên, thực trạng giáo dục tại Việt Nam thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế: nền giáo dục nặng về việc "dạy chữ", truyền thụ lý thuyết thiếu tính thực tiễn và suy lý; đồng thời coi nhẹ việc "dạy người", dẫn đến sự xuất hiện của các biểu hiện lệch chuẩn hành vi, phản giá trị đạo đức trong môi trường học đường và ngoài xã hội. Tâm lý khoa cử, học vì bằng cấp vẫn còn nặng nề.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định xuất phát từ việc: trong lịch sử tư tưởng giáo dục Việt Nam, nguồn tư liệu về gia huấn (giáo dục gia đình truyền thống) rất phong phú nhưng chưa được khảo cứu và xuất bản một cách có hệ thống dưới góc độ triết học và đạo đức học. Việc tiếp cận gia huấn như một phương thức giáo dục đầu đời kết hợp với tinh thần "thực học" truyền thống để rút ra bài học lịch sử cho việc xây dựng triết lý giáo dục và giải quyết những bất cập trong giáo dục đạo đức học sinh hiện nay vẫn còn thiếu vắng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ quá trình hình thành cùng những nội dung giáo huấn cơ bản trong hai tác phẩm "Bùi gia huấn hài" và "Gia huấn diễn ca"; trên cơ sở đó chỉ ra các giá trị, hạn chế và đúc kết những bài học lịch sử cho công tác giáo dục đạo đức học sinh tại Việt Nam hiện nay.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định và giải quyết 3 nhiệm vụ cụ thể được đánh số như sau:
- Thứ nhất, phân tích, trình bày những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội và tiền đề lý luận cơ bản cho sự ra đời các bản gia huấn Việt Nam trong lịch sử.
- Thứ hai, phân tích, hệ thống hóa những nội dung giáo huấn cơ bản trong "Bùi gia huấn hài" và "Gia huấn diễn ca", từ đó chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của hai bản gia huấn này.
- Thứ ba, từ việc phân tích các nội dung giáo huấn cơ bản và đặc điểm chủ yếu của hai bản gia huấn, luận án làm rõ các giá trị, hạn chế và rút ra bài học lịch sử đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung giáo huấn cơ bản trong tác phẩm "Bùi gia huấn hài" của tác giả Bùi Dương Lịch và tác phẩm khuyết danh "Gia huấn diễn ca".
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung khảo sát hai bản gia huấn được coi là điển hình về nội dung và hình thức trong lịch sử: "Bùi gia huấn hài" (biên soạn vào nửa cuối thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài) và "Gia huấn diễn ca" (lưu hành tại Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX). Luận án cũng mở rộng nghiên cứu các công trình học thuật liên quan đến thể loại gia huấn, lịch sử Nho học, văn hóa gia đình và thực trạng giáo dục đạo đức học sinh phổ thông tại Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân định tổng quan tình hình nghiên cứu thành 3 nhóm hướng nghiên cứu chính:
1. Các nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và tiền đề tư tưởng
- Về bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội: Công trình Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1 năm 1998, tập 2 năm 2003) do Đinh Xuân Lâm chủ biên (cùng Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh) cung cấp dữ liệu về cấu trúc xã hội, khủng hoảng chính trị thời Lê - Trịnh, phong trào Tây Sơn và chính sách cai trị thuộc địa của thực dân Pháp. Tác phẩm Phương thức sản xuất châu Á: Lý luận Mác – Lênin và thực tiễn Việt Nam (1996) của Văn Tạo phân tích chế độ sở hữu ruộng đất tối cao của nhà nước phong kiến và làng xã tự cấp tự túc. Cuốn Lịch sử Trung Quốc (2003) của Nguyễn Gia Phu và Nguyễn Huy Quý đóng vai trò đối chiếu phần sử liệu Nho học trong gia huấn.
- Về văn hóa, tư tưởng truyền thống và gia đình: Công trình Cơ sở văn hóa Việt Nam (2000) do Trần Quốc Vượng chủ biên luận giải môi trường gia đình - làng xã là cái nôi nhập thân văn hóa đầu tiên. Tác phẩm Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Dân; Việt Nam phong tục (2005) của Phan Kế Bính; Văn hóa gia đình Việt Nam (2007) của Vũ Ngọc Khánh; Gia đình học (2007) của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý; các công trình của Lê Thi (2002) về vai trò của gia đình trong xây dựng nhân cách; luận án tiến sĩ của Nghiêm Sĩ Liêm (2001) về giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ; bài viết của Nguyễn Thị Khoa (2002) về đạo đức gia đình trong kinh tế thị trường.
- Về ảnh hưởng của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo): Công trình Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay (1997) của Nguyễn Tài Thư; nghiên cứu của Trần Đình Hượu (1991) về gia đình Việt Nam và ảnh hưởng của Nho giáo; các công trình của Vũ Khiêu như Nho giáo và gia đình (1995), Nho giáo và phát triển ở Việt Nam (1997), Nho giáo và đạo đức; tác phẩm Khổng học đăng (1998) của Phan Bội Châu; Nho giáo (2003) của Trần Trọng Kim; Nho giáo Trung Quốc (2005) của Nguyễn Tôn Nhan; Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần (2005) của Tào Thượng Bân; Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu (1995) của Cao Xuân Huy; Đại cương triết học Trung Quốc (1994, 2004) của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê; Lịch sử triết học phương Đông (2012) do Trịnh Doãn Chính chủ biên; Đạo Hiếu trong Nho gia (2014) của Cao Vọng Chi; các luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Bình (2005), Trần Thị Lan Hương (2014), Nguyễn Thị Nga, Trần Thị Hồng Thúy.
2. Các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung gia huấn Việt Nam
Tác phẩm Nho giáo với văn hóa Việt Nam (1998) của Nguyễn Đăng Duy làm rõ cấu trúc gia đình phụ quyền và trật tự tam tòng, tứ đức gắn với Gia huấn diễn ca. Học giả Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương (2000, 2002) phân tích đạo hiếu và sách Gia huấn Nữ tắc (tương truyền của Nguyễn Trãi). Công trình Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam (1998) do Phan Đại Doãn chủ biên đề cập đến sự tương tác giữa nhà nước, làng xã và dòng họ thông qua hương ước và gia huấn. Các tác phẩm của Phạm Côn Sơn (Đạo nghĩa trong gia đình, 2003; Nề nếp gia phong, 2006), Trí Tuệ (Đạo trị gia, 2003), cùng luận án của Lê Thị Thủy (2001), Nguyễn Duy Quý (2006), Nguyễn Thị Thọ (2010), Hà Văn Tác (2011) đã đi sâu vào chuẩn mực luân lý gia tộc.
3. Các nghiên cứu về giáo dục đạo đức và tinh thần thực học
Nghiên cứu của Huỳnh Khái Vinh (2001) về chuẩn giá trị xã hội; luận án của Nguyễn Xuân Thanh (2009) về giáo dục lòng nhân nghĩa cho học sinh; luận án của Nguyễn Thị Mai Lan (2009) về định hướng giá trị nhân cách; công trình của Phạm Minh Hạc (1996) về phát triển giáo dục phục vụ kinh tế - xã hội; bài viết của Phạm Nguyên Nhung (2013) về môn Giáo dục công dân; bài phân tích của Nguyễn Thị Doan (2019) về thực trạng tâm lý khoa cử và sự xuống cấp đạo đức học đường. Về khái niệm "thực học", luận án tham khảo bài viết của Dương Ngọc Dũng (2015) về các nhà thực học khu vực (Kaibara Ekken, Dasan Jeong Yak-yong, Nguyễn Trường Tộ) và bài viết của Thái Huy Phong (2010) về học thực chất, học vì tri thức thực tiễn.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Mặc dù các tài liệu trên đã tiếp cận gia đình và Nho giáo dưới nhiều khía cạnh, nhưng chưa có công trình nào khảo sát chuyên sâu và đối chiếu hai bản gia huấn cụ thể (Bùi gia huấn hài và Gia huấn diễn ca) để giải mã sự chuyển biến của nội dung giáo huấn đạo đức gắn liền với tinh thần "thực học" (thiên văn, địa lý, sử học, tri thức đời sống) qua các khúc quanh lịch sử; từ đó luận giải một cách có hệ thống các bài học lịch sử cho công tác giáo dục đạo đức học sinh phổ thông hiện nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án được thực hiện dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử:
- Quy luật tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội: Sự ra đời, biến đổi của các bản gia huấn phản ánh các điều kiện kinh tế nông nghiệp tiểu nông, phương thức sản xuất châu Á và thể chế chính trị phong kiến tập quyền Việt Nam qua từng thời kỳ. Ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tính kế thừa.
- Quan điểm kế thừa biện chứng các giá trị truyền thống: Khảo cứu lịch sử tư tưởng theo tinh thần "ôn cố tri tân" nhằm lọc bỏ những yếu tố lỗi thời, bảo lưu và phát huy những giá trị nhân bản, thực học.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các luận điểm về đạo đức cách mạng, sự thống nhất biện chứng giữa "dạy chữ" và "dạy người", nguyên lý kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
- Khung phân tích luân lý Nho giáo bản địa hóa: Hệ thống phạm trù Tam cương (vua - tôi, cha - con, chồng - vợ), Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín), Ngũ luân, Đạo hiếu, thân giáo và Bát điều mục (Cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của chuyên ngành Triết học và Lịch sử tư tưởng:
- Phương pháp logic kết hợp với lịch sử cụ thể: Đặt hai bản gia huấn vào đúng không gian lịch sử cuối thế kỷ XVIII (khủng hoảng Trịnh - Nguyễn) và đầu thế kỷ XX (xã hội thuộc địa nửa phong kiến) để làm rõ tính tất yếu của các tư tưởng giáo huấn.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Bóc tách các thành tố nội dung (thế giới quan, nhân sinh quan, thai giáo, ứng xử gia đình - xã hội, tri thức thực học) và tổng hợp thành các đặc điểm, quy luật giáo dục.
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch và khái quát hóa: Rút ra các quy luật hình thành nhân cách từ các điều răn cụ thể trong văn bản.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh cấu trúc, đối tượng, phương pháp giáo dục giữa Bùi gia huấn hài (mang tính quy phạm kinh điển dòng họ của một Nho gia quan phương) và Gia huấn diễn ca (mang tính bình dân, đại chúng ở vùng đất mới Nam Bộ).
- Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức Sử học, Địa lý học, Giáo dục học, Đạo đức học và Xã hội học gia đình.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn bản chữ Hán và bản dịch tác phẩm "Bùi gia huấn hài" của Bùi Dương Lịch (biên soạn cuối thế kỷ XVIII).
- Văn bản chữ Nôm/Quốc ngữ tác phẩm khuyết danh "Gia huấn diễn ca" (đầu thế kỷ XX).
- Các bộ chính sử, tài liệu văn hóa học, văn kiện Đại hội Đảng và các số liệu khảo sát thực trạng giáo dục học đường thời kỳ đổi mới được trích dẫn trong văn bản luận án.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở xã hội và những tiền đề lý luận cơ bản cho sự hình thành các bản gia huấn Việt Nam trong lịch sử
Chương 1 tập trung phân tích môi trường kinh tế, chính trị - xã hội và các dòng chảy tư tưởng dẫn đến sự ra đời của thể loại gia huấn trong lịch sử Việt Nam, cụ thể hóa vào hai thời kỳ xuất hiện của hai tác phẩm khảo sát.
-
Bối cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội:
- Nửa cuối thế kỷ XVIII: Đất nước bị chia cắt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài qua giới tuyến sông Gianh. Thể chế "lưỡng đầu" Lê - Trịnh tại Đàng Ngoài làm cho vị thế vua Lê trở nên bù nhìn, tính "chính danh" bị xâm phạm nghiêm trọng. Các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ liên tiếp (Hoàng Công Chất, Lê Duy Mật, Nguyễn Hữu Cầu), đỉnh cao là phong trào Tây Sơn lật đổ các tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn và đánh tan quân xâm lược Xiêm, Thanh. Sự biến động xã hội làm lung lay các chuẩn mực Nho giáo, thôi thúc các sĩ phu như Bùi Dương Lịch biên soạn Bùi gia huấn hài để chấn hưng luân lý gia đình, bảo vệ trật tự chính thống.
- Đầu thế kỷ XX: Chế độ phong kiến độc lập sụp đổ hoàn toàn sau sự thất bại của phong trào Cần Vương (1897). Thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914), thiết lập bộ máy cai trị chia để trị (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ). Tại Nam Kỳ, Nho giáo suy yếu nhanh chóng trước sự xâm nhập của văn hóa phương Tây và các hiện tượng tôn giáo bản địa mới. Trong hoàn cảnh mất nước, các nhà Nho không thể khôi phục tư tưởng trung quân bèn tìm cách vãn hồi luân lý truyền thống thông qua Gia huấn diễn ca, giữ gìn nền nếp gia đình với tâm niệm "nước mất nhưng nhà còn, làng còn".
- Cơ sở kinh tế: Nền kinh tế nông nghiệp tiểu nông lạc hậu, phương thức sản xuất châu Á với chế độ sở hữu đất đai tối cao của nhà nước phong kiến kết hợp công xã nông thôn. Quan hệ tiền tệ và thương nghiệp dù có bước phát triển vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX nhưng nền kinh tế tự cung tự cấp vẫn chi phối quan hệ ứng xử làng xã.
- Cơ sở chính trị - xã hội: Mô hình nhà nước phong kiến quân chủ trung ương tập quyền có cấu trúc hình tháp. Xã hội được quan niệm như một "gia đình lớn", vua quan là phụ mẫu của dân. Việc giáo dưỡng đạo đức gia đình đóng vai trò hạt nhân củng cố kỷ cương nhà nước phong kiến.
-
Ảnh hưởng của Tam giáo và văn hóa truyền thống:
- Nho giáo: Đóng vai trò nền tảng hệ tư tưởng, cung cấp các chuẩn mực đạo đức cốt lõi gồm Tam cương, Ngũ thường (đặc biệt là chữ Nhân với 4 hàm nghĩa: cảm thông, quan hệ ứng xử người - người, nguồn gốc thiện lương và đức hiếu đễ), Ngũ luân và nguyên tắc Thân giáo (làm gương).
- Sự tiếp biến văn hóa: Quá trình "Việt hóa" Nho giáo (Nho Việt) thông qua sự kết hợp với văn hóa bản địa, phong tục tập quán, ca dao tục ngữ và hương ước làng xã, tạo nên hình thức gia huấn dễ nhớ, dễ thực hành qua thơ ca, biền văn. Phật giáo và Đạo giáo tuy có ảnh hưởng trong đời sống tâm linh nhưng ít hiện diện trực tiếp trong kết cấu lý luận của hai bản gia huấn.
-
Khái quát về hai tác phẩm:
- Bùi gia huấn hài: Tác phẩm của danh sĩ Bùi Dương Lịch (quê Nghệ Tĩnh), xuất thân từ dòng họ khoa bảng danh gia, mang tính chất gia huấn nội bộ dòng tộc với hàm lượng tri thức bác học cao.
- Gia huấn diễn ca: Tác phẩm khuyết danh hình thành tại Nam Bộ, sử dụng thể thơ lục bát bình dân, hướng tới đối tượng giáo dục đại chúng trong các gia đình bình dân.
| Tiêu chí so sánh |
Bùi gia huấn hài |
Gia huấn diễn ca |
| Tác giả |
Bùi Dương Lịch (danh sĩ thời Lê mạt - Nguyễn sơ) |
Khuyết danh |
| Thời điểm ra đời |
Cuối thế kỷ XVIII |
Đầu thế kỷ XX |
| Không gian địa lý |
Đàng Ngoài (vùng văn hóa Nghệ Tĩnh - Bắc Bộ) |
Nam Bộ (vùng đồng bằng sông Cửu Long) |
| Hình thức thể hiện |
Biền văn, văn xuôi chữ Hán mang tính bác học |
Thể thơ lục bát chữ Nôm / Quốc ngữ bình dân |
| Đối tượng tiếp nhận |
Con em dòng họ Bùi, sĩ tử chuẩn bị khoa cử |
Các tầng lớp nhân dân lao động, phụ nữ, con trẻ |
| Khuynh hướng nội dung |
Chuẩn mực Nho gia kinh viện kết hợp thực học uyên thâm |
Đạo lý làm người giản dị, luân lý gia đình thường nhật |
Chương 2: Một số nội dung cơ bản và đặc điểm chủ yếu của nó trong “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”
Chương 2 là phần trọng tâm thể hiện kết quả phân tích văn bản của luận án trên hai phương diện: nội dung giáo huấn và đặc điểm phương pháp.
Chương 3: Giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca” đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay
Chương 3 khái quát các bài học kinh nghiệm lịch sử và đề xuất định hướng ứng dụng vào thực tiễn giáo dục phổ thông.
- Đánh giá giá trị và hạn chế:
- Giá trị: Đặt nền tảng đạo đức gia đình từ sớm; xây dựng nhân cách có trách nhiệm với cộng đồng; đề cao tinh thần thực học kết hợp tri thức khoa học đương thời; phương pháp giáo dục sinh động, dễ tiếp thu.
- Hạn chế: Chứa đựng các yếu tố ý thức hệ phong kiến bảo thủ như tư tưởng trung quân mù quáng, quan niệm phụ quyền gia trưởng khắt khe, tư tưởng "trọng nam khinh nữ" hạn chế vai trò của người phụ nữ, thiếu tư duy phản biện cá nhân.
- Thực trạng giáo dục đạo đức học sinh Việt Nam hiện nay:
- Đạt được những kết quả nhất định trong việc nâng cao dân trí và đổi mới chương trình học.
- Tồn tại những bất cập: Giáo dục gia đình bị buông lỏng hoặc phó mặc cho nhà trường; áp lực thi cử dẫn đến tình trạng học vẹt, nhồi nhét lý thuyết; sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội còn lỏng lẻo; bùng phát các hiện tượng bạo lực học đường và lệch lạc nhân cách trong nền kinh tế thị trường.
- Bốn bài học lịch sử chủ yếu:
- Bài học 1: Phải đặc biệt chú trọng lĩnh vực giáo dục đạo đức trong gia đình nhằm trang bị nền tảng phẩm chất đạo đức đầu đời cho học sinh.
- Bài học 2: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa ba môi trường giáo dục: Gia đình, Nhà trường và Xã hội.
- Bài học 3: Đổi mới toàn diện nội dung và phương pháp giáo dục theo hướng thực học; dạy học phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi và năng lực tiếp thu của học sinh; dạy từ thấp lên cao, tránh nhồi nhét kiến thức kinh viện, giáo điều.
- Bài học 4: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế và pháp luật (đặc biệt là Luật Giáo dục) nhằm thiết lập môi trường văn hóa lành mạnh, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và phản giá trị đạo đức trong học đường.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về khoa học và lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ nguồn gốc tư tưởng giáo dục Nho giáo, tinh thần tiếp biến văn hóa bản địa và các yếu tố tri thức khoa học đương thời (Địa lý, Thiên văn, Sử học, Thực học) hiện diện trong Bùi gia huấn hài và Gia huấn diễn ca.
- Luận án đã phân tích, làm rõ khái niệm "đạo đức", "giáo dục đạo đức" và "thực học" truyền thống dưới góc độ triết học, khẳng định giáo dục gia đình qua hình thức gia huấn là một mắt xích cơ bản trong tiến trình hình thành nhân cách con người Việt Nam trong lịch sử.
- Luận án chỉ ra tính chất biện chứng giữa yêu cầu "dạy chữ" và "dạy người", đánh giá khách quan cả mặt giá trị nhân văn lẫn những hạn chế lịch sử của mô hình giáo dục gia huấn phong kiến.
Đóng góp về thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Phân tích thực trạng bất cập của giáo dục đạo đức học sinh trong thời kỳ đổi mới (tâm lý khoa cử, coi nhẹ môn Giáo dục công dân, sự suy thoái đạo đức học đường) để chứng minh tính cấp thiết của việc tìm kiếm triết lý giáo dục phù hợp.
- Đúc kết 4 bài học lịch sử có giá trị ứng dụng thực tiễn:
- Tái lập vai trò hạt nhân của gia đình trong giáo dục nhân cách đầu đời.
- Xây dựng cơ chế liên kết thực chất giữa Nhà trường – Gia đình – Xã hội.
- Cải cách chương trình giảng dạy phổ thông theo hướng giảm tải kiến thức hàn lâm, tăng cường trải nghiệm thực tế và kỹ năng sống theo tinh thần thực học.
- Tăng cường kỷ cương học đường thông qua việc thực thi và hoàn thiện Luật Giáo dục.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Do khối lượng các bản gia huấn trong lịch sử Việt Nam rất lớn và phong phú, luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu thực chứng trên hai bản tác phẩm tiêu biểu là Bùi gia huấn hài của Bùi Dương Lịch và bản khuyết danh Gia huấn diễn ca. Do vậy, chưa thể bao quát hết toàn bộ diện mạo của thể loại gia huấn thuộc các dòng họ, vùng miền khác trên cả nước.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát, phiên âm, dịch nghĩa và phân tích các văn bản gia huấn của các danh sĩ, dòng họ khác tại miền Trung và miền Bắc qua các thời kỳ lịch sử.
- Nghiên cứu so sánh loại hình gia huấn Việt Nam với gia huấn của các quốc gia đồng văn trong khu vực Đông Á (như Nhan thị gia huấn của Trung Quốc, các tài liệu gia huấn tại Triều Tiên, Nhật Bản).
- Đi sâu xây dựng các bộ tài liệu giáo dục kỹ năng sống, đạo đức gia đình ứng dụng thực tế cho học sinh các cấp học hiện nay dựa trên tinh thần thực học truyền thống đã được gạn lọc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng cụ thể sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Triết học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Lịch sử Triết học phương Đông, Văn hóa học, Xã hội học gia đình và Giáo dục học.
- Giảng viên và giáo viên: Giảng dạy các môn Triết học, Đạo đức học, Lịch sử tư tưởng, Giáo dục công dân tại các trường đại học, cao đẳng và trường phổ thông.
- Nhà quản lý và hoạch định chính sách giáo dục: Tham khảo các luận điểm về tinh thần thực học, triết lý giáo dục toàn diện và cơ chế phối hợp gia đình - nhà trường để xây dựng chính sách đổi mới giáo dục đạo đức học đường.
- Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Phần phân tích bối cảnh lịch sử Đàng Trong - Đàng Ngoài (Chương 1); hệ thống tri thức thực học Nam - Bắc sử, Thiên văn, Địa lý trong gia huấn (Chương 2); và hệ thống 4 bài học lịch sử rút ra cho việc đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức học sinh hiện nay (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo cứu cụ thể hai văn bản gia huấn nào và chúng đại diện cho bối cảnh lịch sử ra sao?
Luận án khảo cứu tác phẩm "Bùi gia huấn hài" do danh sĩ Bùi Dương Lịch biên soạn vào nửa cuối thế kỷ XVIII tại Đàng Ngoài (giai đoạn khủng hoảng chính trị Trịnh - Nguyễn và khởi nghĩa Tây Sơn) và tác phẩm khuyết danh "Gia huấn diễn ca" ra đời vào đầu thế kỷ XX tại Nam Bộ (giai đoạn thực dân Pháp đô hộ và đẩy mạnh khai thác thuộc địa). Hai tác phẩm đại diện cho hai tầng lớp (Nho gia trí thức dòng họ danh gia và đại chúng bình dân) ở hai vùng không gian văn hóa khác nhau.
2. Khái niệm "thực học" trong hai bản gia huấn được biểu hiện qua những nội dung cụ thể nào?
Khái niệm "thực học" trong hai bản gia huấn không chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng kinh điển Nho gia để đi thi, mà là việc học tập những tri thức gắn liền với đời sống thực tế. Biểu hiện cụ thể gồm: tri thức thiên văn (nhận biết thời tiết, quy luật vận hành của tự nhiên phục vụ canh tác); tri thức địa lý xứ sở; kiến thức thông sử Nam sử (lịch sử Việt Nam) và Bắc sử (lịch sử Trung Quốc); cùng những hiểu biết về lịch sử phát triển của Nho học.
3. Vì sao luận án khẳng định đạo đức gia đình là nền tảng cốt lõi trong tư tưởng giáo huấn truyền thống?
Theo phân tích của luận án, dưới chế độ phong kiến quân chủ trung ương tập quyền, xã hội được cấu trúc như một gia đình mở rộng. Nho giáo coi gia đình là tế bào đầu tiên thực hiện chức năng xã hội hóa cá nhân. Đạo đức gia đình (đặc biệt là chữ Hiếu và chữ Đễ) là cái gốc của chữ Nhân; việc rèn luyện nề nếp gia phong từ thuở ấu thơ qua phương pháp thân giáo (làm gương) sẽ tạo lập hành vi chuẩn mực trước khi con người bước ra các quan hệ xã hội phức tạp hơn.
4. Luận án chỉ ra những hạn chế lịch sử nào của hai bản gia huấn?
Hạn chế căn bản của hai bản gia huấn xuất phát từ tính chất giai cấp và ý thức hệ phong kiến: tư tưởng trung quân mù quáng; cơ chế phụ quyền tuyệt đối áp đặt từ người cha và người chồng; quan niệm "trọng nam khinh nữ", ràng buộc người phụ nữ trong khuôn khổ tam tòng khắt khe; cùng với tính chất đẳng cấp, thiếu tính phản biện và kìm hãm tự do phát triển của cá nhân.
5. Bốn bài học lịch sử chủ yếu được luận án đúc kết nhằm đổi mới giáo dục đạo đức học sinh hiện nay là gì?
Bốn bài học gồm: (1) Chú trọng giáo dục đạo đức gia đình làm nền tảng đầu đời; (2) Tăng cường sự phối hợp hữu cơ giữa Gia đình – Nhà trường – Xã hội; (3) Đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng thực học, phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi, dạy từ thấp lên cao, chống nhồi nhét kiến thức kinh viện; (4) Hoàn thiện hành lang pháp lý (Luật Giáo dục) nhằm giữ vững kỷ cương học đường và ngăn chặn các biểu hiện phản văn hóa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Phan Ngọc Bích đã phục dựng và phân tích một cách có hệ thống những giá trị tư tưởng giáo huấn trong hai tác phẩm "Bùi gia huấn hài" và "Gia huấn diễn ca" dưới góc nhìn của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Công trình đã làm rõ tính kế thừa biện chứng giữa luân lý Nho giáo bản địa hóa, tinh thần thực học và truyền thống văn hóa gia đình Việt Nam qua các bước ngoặt lịch sử cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX. Từ việc chỉ ra những giá trị nhân văn cốt lõi cùng các giới hạn lịch sử của gia huấn truyền thống, luận án đã đúc kết 4 bài học kinh nghiệm sâu sắc nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc giải quyết các bất cập trong công tác giáo dục đạo đức và định hình triết lý giáo dục toàn diện cho học sinh Việt Nam hiện nay.