Phần mở đầu Phần nội dung: gồm 4 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Nông nghiệp tại các cơ sở giáo dục đại học Chƣơng 3: Biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành nông nghiệp tại các cơ sở giáo dục đại học. Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm. Phần kết luận và khuyến nghị Danh mục và tài liệu tham khảo Phụ lục 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH NÔNG NGHIỆP TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Nghiên cứu về đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp là một khái niệm nhạy cảm đối với bất cứ ngành nghề nào trong xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái. Theo một khảo sát đƣợc thực hiện bởi tổ chức ACFE (Association of Certified Fraud Examiners), suy thoái kinh tế đã gián tiếp làm gia tăng hành vi sai phạm, lừa đảo và gian lận trong nội bộ doanh nghiệp, làm ảnh hƣởng đến tình hình sản xuất của các cơ sở sản xuất, ảnh hƣởng đến ngƣời tiêu dùng, ảnh hƣởng trầm trọng đến môi trƣờng. Tuy nhiên, để có thể thành công và phát triển trong môi trƣờng hiện nay, đạo đức nghề nghiệp lại chính là “tài sản vô hình quý giá nhất của ngƣời hành nghề”, theo bà Trịnh Hồng Nguyệt - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thƣ ký Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA). Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp và giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên.
Một số phạm trù về đạo đức hay chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đã đƣợc trở thành nội dung chính mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thƣờng nhắc đến khi Ngƣời gặp và làm việc với các bộ phận ban ngành từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, từ ngƣời công nhân đến ngƣời lãnh đạo, từ ngƣời thầy giáo đến những chiến sỹ công an, ngƣời thầy thuốc.Đạo đức nghề nghiệp là cái gốc của cách mạng nhƣng phải nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có đức phải có tài nếu không sẽ không mang lại lợi ích gì cho dân. [30] Trần Hữu Quang (2014) trong bài “Luận về đạo đức nghề nghiệp”, tác giả đã chỉ ra nền tảng của đạo đức nghề nghiệp xuất phát từ hai nền tảng đó là ý nghĩa lao động của nghề nghiệp và ý nghĩa của hành vi đạo đức. Đạo đức nghề nghiệp là hệ thống các chuẩn mực quy định thái độ chủ quan của ngƣời lao động trong một ngành nghề nào đó đối với công việc và sản phẩm của mình khi hành nghề.
Tác giả cho rằng: “Thực chất của đạo đức nghề nghiệp là đạo đức nghĩa vụ theo học thuyết đạo đức của Kant, trong đó nhấn mạnh đến động cơ chủ quan và lƣơng tâm của ngƣời lao động, sự tôn trọng các qui tắc của nghề nghiệp”.[37] 10 Tác giả Đặng Vũ Tuấn Sơn (2015), trong nghiên cứu “Có say mê mới có đạo đức nghề nghiệp” đã phân tích thực trạng về sự phát triển của xã hội dẫn đến số lƣợng nghề nghiệp cũng ngày càng trở nên phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây những hiện tƣợng làm trái với đạo đức nghề nghiệp ngày càng diễn ra nhiều và nghiêm trọng ở các ngành nghề khác nhau: trong y học, giáo dục, kinh doanh, sản xuất. Mặc dù giáo dục nghề nghiệp có đƣợc giáo dục, tuyên truyền dƣới nhiều các hình thức khác nhau sự suy thoái vẫn diễn ra đến mức báo động trong xã hội. Yếu tố để đạo đức nghề nghiệp đƣợc ổn định và bền vững trong ngƣời lao động là gì? Theo tác giả đó chính là sự say mê nghề nghiệp của mỗi con ngƣời - “sức mạnh của đạo đức nghề nghiệp chính là nằm ở chỗ đó”.
Vì vậy, muốn có đạo đức nghề nghiệp thì giáo dục và đào tạo cần mang lại niềm hứng thú, lòng yêu nghề và cao nhất là sự say mê nghề cho ngƣời đƣợc đào tạo nghề đó.[39] Thích Giác Toàn (2012) trong bài viết “Phật giáo và đạo đức nghề nghiệp” cho rằng: khi nói về đạo đức nghề nghiệp thực chất là nói đến những phẩm chất của ngƣời hành nghề. Đó là phẩm chất chân thực, tích cực, khéo léo, thành thạo công việc, không gian dối, không tham lam, làm ra những sản phẩm có ích cho xã hội. Đạo đức nghề nghiệp có căn bản là đạo đức nói chung, dựa trên đạo đức nói chung nhƣng tùy theo từng nghề, theo pháp luật của từng quốc gia, theo hoàn cảnh sinh hoạt mà có những điều khoản khác nhau. Nội dung về đạo đức nghề nghệp trong đạo Phật đƣợc thể hiện ở chi phần thứ năm, tiếp theo là chánh nghiệp, đó là chánh mạng - nghĩa là làm các nghề chân chính.
Nghề chân chính là ngƣời hành nghề phải mang lại lợi ích cho mình và cho đa số ngƣời trong xã hội. Trong chánh mạng đã nêu lên mối lƣu tâm của đức Phật vào nghề nghiệp. Phẩm chất của ngƣời hành nghề đó là: chánh kiến (thấy đúng, hiểu lý sự việc); chánh tƣ duy (suy nghĩ đúng); chánh ngữ (lời nói nhu hòa, chân thật không dối trá); chánh tinh tấn (siêng năng, nỗ lực tiến bộ); chánh niệm (luôn tỉnh giác); chánh định (ổn định tâm thức).[43] Nguyễn Huy Phòng (2013), đã nghiên cứu về “đạo đức nghề nghiệp trong kinh tế thị trƣờng và hội nhập quốc tế” đƣa ra những đánh giá về thực trạng đạo đức nghề nghiệp trong tất cả các ngành nghề của cán bộ công chức, viên chức lao động. Tác giả khẳng định là đa số cán bộ công chức, viên chức đều tuân thủ đúng qui tắc, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, giữ gìn đƣợc thuần phong mĩ tục, có đủ phẩm chất 11 cần cù, chịu khó, nhân ái, khoan dung.
Đạo đức nghề nghiệp và những giải pháp khắc phục tình trạng suy thoái đạo đức nghề nghiệp mà tác giả đƣa ra mang tính khái quát, chung chung chứ không mang tính đặc trƣng của từng ngành nghề. Trong “Bộ qui tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp” của Hoa Kỳ(2012) đã đƣa ra những nguyên tắc cơ bản và những tiêu chuẩn đạo đức cao chi phối. Bộ qui tắc đã nói lên sứ mệnh và những giá trị cốt lõi là: Duy trì những tiêu chuẩn đạo đức cao nhất và thực hiện tất cả những gì mà chúng ta làm với sự chính trực; tiếp tục tập trung cao độ vào việc làm hài hòa các kết quả kinh doanh và sự hài lòng cũng nhƣ thành công của cổ đông; bảo vệ sức khỏe, sự an toàn và phẩm giá của nhân viên và quản lý nơi làm việc của chúng ta với tinh thần, trách nhiệm và sự tôn trọng; tuân thủ luật và các qui luật có liên quan đến việc kinh doanh cả về mặt nội dung và tinh thần.Patric Dobel(1990), trong nghiên cứu “Integrity in the pulic service” (Liêm chính trong các dịch vụ công cộng) có thảo luận những cam kết với bộ phận phụ trách chế độ đó là có tinh thần trách nhiệm cá nhân cao, có tính thận trọng, chu đáo lấy đó là nguồn đạo đức để hành động khôn ngoan. V (1991), trong nghiên cứu Ethics and agriculture: an anthlogy on current issues world context đã khẳng định: Đạo đức nghề nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu của bất cứ loại hình công việc nào.
Mỗi loại nghề đòi hỏi ngƣời tham gia nghề đó cần phải hội đủ các thành tố: tri thức, thái độ, kĩ năng. Do đó mỗi nghề nghiệp thƣờng có những chuẩn mực đạo đức riêng biệt. Tác giả đã bàn sâu về ý thức, thái độ nghề nghiệp và những phẩm chất cần thiết của ngƣời làm mỗi nghề.[64] Jonh Hardwig (1991), trong nghiên cứu “Vấn đề đạo đức chuyên môn” (Toward an ethics of expertise) đã đƣa ra những đánh giá cụ thể trong đạo đức chuyên môn rồi từ đó nêu lên những qui tắc chung trong đạo đức chuyên môn. Theo tác giả, đạo đức chuyên môn cũng sẽ đƣa ra những đặc điểm chung cho vấn đề đạo đức trong nhiều ngành nghề khác nhau và sự khác nhau về vấn đề đạo đức ở những ngành nghề khác nhau có thể liên quan phần nào đến sự khác nhau giữa các chuyên môn.
Ông đã đƣa ra 5 nguyên tắc đạo đức cho những ngƣời có chuyên môn (đƣợc gọi là chuyên gia) và những nguyên tắc đạo đức này có vai trò định hƣớng hành vi cho những ngƣời làm chuyên môn. John Harwig đã nhấn mạnh: “Đạo đức chuyên môn cũng cần phải bao gồm yếu tố tử tế (yếu tố nhân đức) trong đó. Nó phải trung 12 thành với lợi ích của những ngƣời không chuyên, và phục vụ cho những ngƣời không chuyên. Ít nhất, nó cần đem lại sự công bằng cho những lợi ích không đƣợc bảo vệ của ngƣời không chuyên.”[74] Joshua joseph (2000) trong cuốn “Đạo đức nơi làm việc” đã nêu các chƣơng trình đạo đức ngày càng trở nên phổ biến trong các tổ chức của Mỹ.
Các chƣơng trình đạo đức ở các tổ chức, các cơ quan đều ảnh hƣởng đến cách thức con ngƣời suy nghĩ và giải quyết vấn đề đạo đức phát sinh trong công việc, nó giúp cho ngƣời làm việc hành động đúng và thành công. Vì vậy, các tổ chức cần phải xây dựng bộ tiêu chuẩn đạo đức để hƣớng dẫn cho nhân viên trong việc thực hiện các hành vi tại nơi làm việc và trong công việc. Những tiêu chuẩn này, một phần dựa trên các giá trị cốt lõi nhƣ trung thực, tôn trọng và tin tƣởng, nhƣng cũng có thể dựa trên sự quan sát và học hỏi từ hành động của ngƣời khác.Wueste (1998) trong cuốn “Professional ethics and social responsibility” (Đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội) - cũng đã phân tích và chỉ ra đạo đức nghề nghiệp khác với đạo đức xã hội hay đạo đức trong các tổ chức cơ quan ở chỗ nó có phạm vi hẹp hơn. Phạm vi của đạo đức nghề nghiệp nhỏ hơn phạm vi của tiêu chuẩn áp dụng cho tổ chức cơ quan ở mức độ nào đó và có thể nhỏ hơn đạo đức xã hội.
Đạo đức nghề nghiệp và thể chế mà nó chi phối cũng thuộc phạm vi của đạo đức phi thể chế (nghĩa là đạo đức cơ bản hay đạo đức theo ý nghĩa đơn giản, dễ hiểu) và chịu sự đánh giá về mặt đạo đức.[68] Trong qui định về đạo đức nghề nghiệp của Hiệp hội Tham vấn Tâm lý Hoa Kì ASCA (ASCA code of ethics) đã nêu những nội dung cụ thể về đạo đức nghề nghiệp của Hội: + Giúp Hiệp hội (ASCA) làm sáng tỏ bản chất những trách nhiệm đạo đức chung nhất phải giữ đối với những hội viên hiện tại, tƣơng lai và cho những ngƣời hƣởng thụ dịch vụ của các hội viên này. + Giúp duy trì sứ mệnh của hiệp hội.