CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu về đề tài trong và ngoài nước 1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Kết quả khảo sát các công trình nghiên cứu về PL về GDBĐ bằng ĐS cho thấy, chủ đề này được các tác giả nhìn nhận đa diện dưới nhiều góc độ khác nhau. GDBĐ bằng tài sản được nghiên cứu dưới góc độ khái quát như là một tập hợp các biện pháp BĐ thực hiện nghĩa vụ trong các quan hệ PL dân sự nói chung. Việc nghiên cứu khái quát về GDBĐ trong lĩnh vực NH cũng là một hướng nghiên cứu, trong đó GDBĐ được nhìn nhận như là một cơ chế phòng ngừa rủi ro mà những rủi ro này gắn với các đặc trưng của hoạt động tín dụng NH. Một số công trình nghiên cứu khác lại nhận diện GDBĐ bằng tài sản thông qua các nội dung cụ thể dựa trên các quy trình từ xác lập đến kết thúc GDBĐ.
Ở một bình diện khác, một số nghiên cứu nhìn nhận về GDBĐ thông qua đối tượng của GD là quyền sử dụng đất, quyền tài sản, giấy tờ có giá hoặc các tài sản BĐ khác.1 Các công trình nghiên cứu về giao dịch bảo đảm trong pháp luật ngân hàng Để nghiên cứu các công trình về GDBĐ trong PL NH, nghiên cứu sinh dựa trên việc nghiên cứu một số công trình về GDBĐ trong PL DS vì mặc dù có những đặc điểm riêng, nhưng về bản chất, GDBĐ vẫn là một chế định có nguồn gốc từ PL dân sự và chịu sự điều chỉnh của BLDS13. 13 Các nghiên cứu về GDBĐ của PL dân sự xuất hiện trong nhiều công trình nghiên cứu: “Bình luận khoa học bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Nguyễn Minh Tuấn (2014) Sách chuyên khảo, Bình luận khoa học bộ luật dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp); “Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005” (Hoàng Thế Liên (2008) sách chuyên khảo, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, nxb Chính trị quốc gia); “Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ Luật dân sự”; “Bình luận những nội dung mới của Bộ luật dân sự 2005” (Đinh Trung Tụng (2005) sách chuyên khảo, Bình luận những nội dung mới của Bộ luật dân sự 2005, Nxb Tư pháp). Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về GDBĐ trong PL dân sự có thể kể đến là: sách chuyên khảo của tác giả Đỗ Văn Đại: “Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam. Bản án và bình luận bản án” tập 1, tập 2 (2012) sách chuyên khảo, Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam.
Bản án và bình luận bản án, Nxb Chính trị quốc gia). Công trình đã phân tích một cách toàn diện các vấn đề pháp lý cơ bản của GDBĐ thông qua các bình luận của tác giả đối với các vụ việc thực tế dựa trên các bản án ở các cấp về GDBĐ. Tác giả đã thể hiện quan điểm của mình đối với các vấn đề pháp lý của GDBĐ: từ đối tượng, điều kiện hiệu lực của GDBĐ, cho đến các biện pháp BĐ cụ thể, so sánh với các biện pháp này, xử lý tài sản bảo đảm, quyền ưu tiên thanh toán thông qua các bình luận về những bản án về các tranh chấp phát sinh từ thực tiễn. Sách chuyên khảo “Bình luận khoa học về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt Nam” Nguyễn Ngọc Điện (2001), Nxb Trẻ.
Công trình đã nghiên cứu một cách chi tiết, nhưng vẫn đảm bảo bao trùm các vấn đề pháp 10 Trong các công trình nghiên cứu này, GDBĐ được nhìn nhận là một chế định pháp lý cấu thành của quy định trong phần về nghĩa vụ dân sự. Theo đó, GDBĐ được thực hiện thông qua các biện pháp BĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự và quan hệ BĐ là quan hệ phái sinh, tồn tại song song với nghĩa vụ chính. Bên cạnh đó, mặc dù được nhìn nhận ở các mức độ khác nhau, nhưng các biện pháp BĐ bằng tài sản, theo các tác giả này, đều làm hình thành nên vật quyền BĐ và các hệ quả pháp lý của quan hệ vật quyền BĐ là: quyền tác động lên tài sản, quyền truy đòi và quyền kiểm soát đối với tài sản. Những kết luận này có tính chất nền tảng quan trọng, thể hiện bản chất của GDBĐ dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như người làm thực tiễn về vấn đề này.
Ngoài các công trình nghiên cứu tiêu biểu về GDBĐ trong PL dân sự nêu trên, các nghiên cứu khái quát về GDBĐ trong PL NH cũng xuất hiện trong nhiều công trình trong PL chuyên ngành. Một số công trình tiêu biểu phải kể đến là: Sách chuyên khảo: “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”14 với 14 chương được viết bởi các chuyên gia, nhà khoa học uy tín về lĩnh vực PL ngân hàng. Trong đó, chương 3, 4, 5 đã trực tiếp đề cập đến các biện pháp BĐ như là một biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Hoa Kỳ, Anh, Úc và Liên bang Nga. Dựa trên việc khảo sát, phân tích các quy định của PL các nước, tại mỗi cuối chương, các tác giả đều tổng kết những bài học kinh nghiệm cho VN, gồm: lý của GDBĐ nói chung.
Khác với công trình của Đỗ Văn Đại, công trình này là tập hợp các phân tích và bình luận về các nội dung pháp lý của GDBĐ dựa trên những giả định của người viết, có kết hợp với so sánh những quy định về nội dung của các chế định tương tự trong Bộ luật Dân sự Pháp. Bên cạnh tác phẩm trên, tác giả Nguyễn Ngọc Điện còn có nhiều công trình khác, trong đó nổi bật là bài viết: “Sự cần thiết của việc vận dụng lý thuyết vật quyền bảo đảm vào quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự”. Trong bài này, Nguyễn Ngọc Điện khẳng định: vật quyền BĐ khác với quyền đối với bản thể của tài sản. Vật quyền BĐ được tạo ra để BĐ quyền của chủ nợ đối với giá trị kinh tế của tài sản.
Từ luận điểm này, theo tác giả: trong trường hợp chủ sở hữu nắm giữ tài sản trong thời gian tồn tại của vật quyền BĐ (như khi tài sản được thế chấp) thì chủ sở hữu, đồng thời là người thế chấp, vẫn có đủ các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản trên nguyên tắc, bao gồm quyền định đoạt. Tức là, chủ sở hữu một tài sản dùng để BĐ nghĩa vụ vẫn có quyền chuyển dịch tài sản cho người khác mà chủ nợ có BĐ không thể ngăn cản. Vấn đề là luật thực định cần đảm bảo tính hữu hiệu của vật quyền BĐ thông qua các quy định về quyền truy đòi và quyền ưu tiên. Từ những lập luận nêu trên, theo Nguyễn Ngọc Điện, PL về GDBĐ bằng tài sản của VN thiếu vắng lý thuyết vật quyền như là cơ sở lý luận của chế độ BĐ nghĩa vụ và BĐ nghĩa vụ như là một trường hợp của quan hệ đối nhân và tư thế của chủ nợ như là người canh gác tài sản, BĐ nghĩa vụ trở thành một biện pháp hạn chế quyền sở hữu, đặc biệt là quyền định đoạt của của chủ sở hữu.
Hậu quả của quy định này là có thể tạo ra những kiểu ứng xử phi chuẩn mực trong quá trình xử lý nợ. Một số nghiên cứu tiêu biểu khác về GDBĐ: “Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”13 của tác giả Nguyễn Văn Vân (2005), tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2005; “Thực trạng pháp luật về giao dịch bảo đảm hiện nay - những vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện” của Lê Minh Hùng (2014), tài liệu Hội thảo quốc tế về Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh , tr. 10 – 31; “Về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi” của Trần Đình Hảo (2005), tạp chí Nhà nước và Pháp luật 04/2005; “Bàn về một số quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm” của Hồ Quang Huy (2007), tạp chí Dân chủ và pháp luật số 4(181), tr 28-33. 14 Lê Thị Thu Thủy (chủ biên) (2016), Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội.
11 (i) Các biện pháp BĐ trên thực tế rất phong phú, vì vậy, PL chỉ nên quy định nội dung của biện pháp BĐ, tài sản BĐ, xác lập biện pháp BĐ, quyền ưu tiên và xử lý tài sản BĐ, mà không nên phân biệt thành các biện pháp BĐ như hiện nay15; (ii) PL VN hiện nay vẫn theo xu hướng phân chia biện pháp BĐ theo hình thức. Việc phân chia này có thể gây khó khăn trong quá trình vận dụng. Vì vậy, nên theo hướng biện pháp BĐ xác lập một đặc quyền của người nhận BĐ trên tài sản và biện pháp BĐ chỉ nên chia thành: biện pháp BĐ có chiếm hữu và biện pháp BĐ không chiếm hữu16; (iii) Tăng cường quyền tự chủ của các chủ thể trong quan hệ tín dụng NH đối với những vấn đề như giá trị tài sản BĐ, hiệu lực của hợp đồng BĐ tiền vay17 Nghiên cứu sinh đã kế thừa những kết luận này trong quá trình nghiên cứu đề tài của luận án và trong quá trình tìm kiếm các kiến nghị hoàn thiện PL GDBĐ bằng ĐS. Luận án tiến sĩ luật học năm 2003 của tác giả Ngô Quốc Kỳ: “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”18.
Toàn bộ luận án của Ngô Quốc Kỳ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về an toàn hoạt động NH, phân tích các rủi ro đặc trưng của hoạt động NH, từ đó, chỉ ra các khuyến cáo và biện pháp phòng ngừa các rủi ro. Trong công trình này, GDBĐ được xem xét dưới khía cạnh là một trong những yếu tố cấu thành của quy trình cho vay an toàn và có hiệu quả trong lĩnh vực tín dụng NH. Các đặc trưng pháp lý của GDBĐ trong các nghiên cứu của PL dân sự được Ngô Quốc Kỳ tiếp thu và đặt trong mối quan hệ với hoạt động NH, qua đó khẳng định vai trò quan trọng và không thể thiếu của GDBĐ trong lĩnh vực tín dụng NH.