CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1. Khái niệm, đặc điểm về giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Để đưa ra cách hiểu về giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là gì, trước hết cần làm rõ một số khái niệm sau: - Giám sát là gì? Giám sát là thuật ngữ được dùng nhiều trong các văn bản của cơ quan Đảng và Nhà nước. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “giám sát là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy định chung nào đó”.
Từ điển Luật học định nghĩa: “giám sát được hiểu là sự theo dõi, quan sát hoạt động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” (32, tr. Xét về cấu trúc, giám sát được thực hiện bởi hai loại chủ thể: giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước (giám sát trong hệ thống nhà nước) và giám sát của các chủ thể xã hội (giám sát từ bên ngoài vào hệ thống nhà nước). Hoạt động giám sát của các chủ thể xã hội được gọi là giám sát chính trị - xã hội. Giám sát chính trị - xã hội phân biệt với giám sát nhà nước ở chỗ: chủ thể giám sát chính trị - xã hội là nhân dân trực tiếp tham gia giám sát hoặc thông qua các tổ chức do mình ủy nhiệm.
Giám sát chính trị - xã hội không mang tính quyền lực nhà nước, đối tượng giám sát xã hội là các cơ quan quyền lực nhà nước, phương thức giám sát chính trị - xã hội cũng linh loạt, năng động và khách quan hơn giám sát nhà nước vì nó là giám sát từ bên ngoài vào hệ thống nhà nước. Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, từ các định nghĩa này, có thể thấy những đặc trưng duy nhất của giám sát: Là hoạt động phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng trong một hệ thống, cấu trúc xã hội xác định. Mục đích là nhằm phòng ngừa, uốn nắn những sai phạm có thể xảy ra trong quá trình thực hiện và đảm bảo cho hệ thống vận hành đạt hiệu quả cao. Trong hệ thống xã hội, hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, giám sát được thực hiện bởi nhiều cấp độ chủ thể khác nhau: Giám sát của Đảng, giám sát của Nhà nước, giám sát của nhân dân và giám sát của xã hội.
Từ những phân tích trên, có thể nêu định nghĩa. Giám sát là hình thức giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước thông qua các tổ chức xã hội hoặc bằng hình thức giám sát trực tiếp của công dân đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, của đảng cầm quyền nhằm đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân. Từ khái niệm trên, có thể rút ra các đặc điểm giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Tại khoản 2, Điều 25, Luật Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam năm 2015 đã nêu “Giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam mang tính xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.9] Hoạt động giám sát được thực hiện bởi hoạt động giám sát của các chủ thể xã hội và hoạt động giám sát của cơ quan Nhà nước. Hoạt động giám sát của các chủ thể xã hội gọi là giám sát xã hội, chủ thể giám sát xã hội là các đảng chính trị, các tổ chức chính trị- xã hội, báo chí, công dân.
Đảng cầm quyền là chủ thể xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy và trực tiếp lãnh đạo Nhà nước. Phương thức giám sát xã hội được thực hiện thông qua Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các đoàn thể. bằng hình thức giám sát gián tiếp (thông qua đại diện) hoặc giám sát trực tiếp. Giám sát xã hội là sự bổ sung khách quan cho cho hính thức giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước và hệ thống.
Hoạt động giám sát phải được thực hiện theo nguyên tắc phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thành viên của Mặt trận. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở nước ta là những thiết chế tổ chức vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội và tính nhân dân. Thứ nhất, tính chính trị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể - xã hội - Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo. - Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tính chính trị cần được xác định rõ nét trong quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị.
Thứ hai, tính chất xã hội của ủy ban Mặt trận Tổ Quốc và các tổ chức đoàn thể xã hội - Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, là nơi tập hợp quần chúng, hiệp thương ý chí nguyện vọng của quần chúng nhân dân. - Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội là các tổ chức tự nguyện, tập hợp, đoàn kết và đại diện cho ý chí, lợi ích của các hội viên, đoàn viên. Đồng thời, các đoàn thể chính trị - xã hội này là tổ chức bảo vệ lợi ích hợp pháp, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của các đoàn viên, hội viên, vì sự phát triển của cộng đồng và xã hội. Các tổ chức chính trị - xã hội là thành viên của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam đồng thời cũng là thành viên của hệ thống chính trị.
Các tổ chức chính trị - xã hội có quan hệ với Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam là mối quan hệ hợp tác, chủ động và bình đẳng trong công tác phối hợp thể hiện: Độc lập với nhau về công tác tổ chức, do các tổ chức thành viên đều có điều lệ, có con dấu riêng và đại diện cho lợi ích của từng tổ chức, nhưng chung quy lại, tất cả các tổ chức thành viên đều hoạt động vì lợi ích chung, lợi ích của đất nước, của dân tộc, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. - Uỷ ban Mặt trận giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với các tổ chức thành viên. Các tổ chức đoàn thể với tư cách là thành viên của Mặt trận có quyền yêu cầu Uỷ ban Mặt trận bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, yêu cầu Uỷ ban Mặt trận cùng cấp tổ chức hiệp thương để phối hợp với các thành viên có liên quan nhằm hưởng ứng sáng kiến của mình về các cuộc vận động nhân dân thực hiện chương trình của Mặt trận. Mặt khác, Uỷ ban Mặt trận trong mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức thành viên thực hiện việc cung cấp thông tin về hoạt động của Uỷ ban mình cho các thành viên; đôn đốc các thành viên thực hiện đúng chính sách đại đoàn kết dân tộc và tham gia công tác Mặt trận.
- Trong cơ cấu thành phần Uỷ ban Mặt trận, người đứng đầu các đoàn thể chính trị - xã hội, thông qua hiệp thương, được cử vào Uỷ ban Mặt trận, nếu trong thực tiễn hoạt động làm trái những quy định và điều lệ của Mặt trận thì tuỳ mức độ sai phạm mà bị khiển trách, cảnh cáo hoặc thôi công nhận là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Vị thế, vai trò của Ủy ban Mặt trận tổ Quốc Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định trong các văn kiện, cương lĩnh xây dựng đất nước… Thời gian gần đây Đảng, Nhà nước ta ngày càng khẳng định vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam với quy mô, hình thức rộng hơn, được quy định trong các văn bản như: Tại khoản 1, Điều 9 Hiến pháp năm 2013 khẳng định vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam ngày càng rộng hơn, phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước. “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Luật Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam năm 2015 quy định: “Kế thừa vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.