CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO DỰA VÀO PHÁT TRIỂN RỪNG 1. Khái niệm nghèo và giảm nghèo 1. Nghèo và tiêu chí đánh giá nghèo đói Khái niệm nghèo Theo WB cho đến năm 2015, nghèo vẫn là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với các nước đang phát triển. Nghiên cứu và giải quyết vấn đề nghèo không những là việc của các nước đang phát triển, mà còn là nhiệm vụ chung của toàn cầu, của các nước phát triển, có thu nhập cao với tư cách là lực đẩy tích cực, nhằm khắc phục các hạn chế về nguồn lực cho xóa đói giảm nghèo cho các nước đang phát triển.
Nghèo khổ phải được nhìn nhận theo cả nghĩa hẹp, đó là nghèo khổ vật chất (gọi là nghèo khổ thu nhập) và nghèo khổ theo nghĩa rộng (nghèo khổ tổng hợp, nghèo khổ con người). Định nghĩa được Ngân hàng thế giới về nghèo : Đói nghèo là một cuộc sống thiếu thu nhập vật chất hay tiêu dùng, trình độ giáo dục và y tế thấp, dễ tổn thương và rủi ro cao, không có quyền không có tiếng nói trong xã hội. [23] Các tiêu chí đánh giá nghèo đói * Chuẩn nghèo (hay ngưỡng nghèo): Chuẩn nghèo là ngưỡng chi tiêu tối thiểu cần thiết cho việc tham gia các hoạt động trong đời sống kinh tế. Đây là một trong những thước đo quan trọng được sử dụng chủ yếu trong việc xác định tình trạng đói nghèo.
Chuẩn nghèo là một mức độ phân chia ranh giới giữa “nghèo” và “không nghèo”. Tổng cục Thống kê (TCTK) định nghĩa về chuẩn nghèo như sau: Chuẩn nghèo là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người được dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo. Những người hoặc hộ có có thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ nghèo. Chuẩn nghèo còn chia ra chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm và chuẩn nghèo chung.[7] 8 Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng hai chuẩn nghèo là chuẩn nghèo theo thu nhập và chuẩn nghèo theo chi tiêu.
- Chuẩn nghèo theo thu nhập là mức thu nhập bình quân một người một tháng áp dụng để phân chia người nghèo và không nghèo. Chuẩn nghèo theo thu nhập được Chính phủ đưa ra theo từng giai đoạn phát triển và tách riêng biệt ở hai khu vực nông thôn và thành thị Bảng 1.1: Chuẩn nghèo của Việt giai đoạn 2006-2015 (theo thu nhập bình quân nghìn vnđ/người/tháng ) Giai đoạn Thành thị Nông thôn 2006-2008 260 200 2009-2010 390 300 2011-2015 500 400 Nguồn: chinhphu.vn Chuẩn nghèo theo chi tiêu là mức chi tiêu bình quân một người một tháng, dùng để xác định người nghèo và không nghèo. Chuẩn nghèo theo chi tiêu được đưa ra bởi TCTK và Ngân hàng thế giới (WB) và không phân biệt giữa thành thị và nông thôn. Gồm 2 mức: Nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100 kcal/ngày đêm; Nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại.
* Mức và tỷ lệ nghèo khổ: Đây là tiêu chí phản ánh rõ nhất, tổng quát nhất tình trạng nghèo khổ. Mức nghèo khổ được xác định trên cơ sở đếm đầu những người sống dưới chuẩn nghèo, tức là các cá nhận hoặc hộ gia đình có mức thu nhập dưới mức chi tiêu tối thiểu. Tỷ lệ nghèo được xác định bằng số lượng người nghèo trên tổng dân số, thể hiện quy mô số người nằm dưới chuẩn nghèo, và thường được biển hiện dưới dạng phần trăm. Giảm nghèo Đói nghèo có thể được định nghĩa là một cuộc sống thiếu thu nhập vật chất hay tiêu dùng, trình độ giáo dục và y tế thấp, dễ bị tổn thương và rủi ro cao, không có quyền và không có tiếng nói trong xã hội.
Vì thế xóa đói giảm nghèo có thể được định nghĩa là làm giảm đi những thiếu thốn trong cuộc sống.[23] Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, do hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, tác giả chủ yếu tập trung vào vấn đề giảm nghèo theo khía cạnh thu nhập và tiêu dùng của người dân tại huyện vùng cao Vị Xuyên của tỉnh Hà Giang. Khái niệm rừng và phát triển lâm nghiệp 1.Khái niệm rừng và phát triển rừng Khái niệm rừng Ngay từ thuở sơ khai, con người đã có những khái niệm cơ bản nhất về rừng. Rừng là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cuộc sống của họ. Lịch sử càng phát triển, những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng.MôRôDốp 1930 [24] Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển Theo M.Tcachenco 1952 Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật.
Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ ảnh hưởng sinh học lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài. Theo Luật bảo vệ Rừng 2004 của Việt Nam Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng 10 Phân loại rừng Phân loại rừng là một công tác rất quan trọng trong quản lý phát triển tài nguyên rừng của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, công tác phân loại rừng gắn liền với lịch sử phát triển sử dụng từ xa xưa.
Và hiện nay, phân loại rừng được tiến hành dựa vào nhiều tiêu chí, mỗi tiêu chí có một bảng phân loại riêng. * Phân loại rừng theo nguồn gốc hình thành[24] Rừng tự nhiên: Là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên. Rừng trồng: Là rừng được hình thành do con người trồng: Rừng trồng mới trên đất có rừng, rừng trồng lại sau khi khai thác rừng trồng, rừng tái sinh tự nhiên từ rừng trồng đã khai thác. * Theo Điều 4 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định, căn cứ vào mục đích sử dụng, rừng được chia thành 3 loại gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.
- Rừng phòng hộ: Được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường. Rừng phòng hộ bao gồm: + Rừng phòng hộ đầu nguồn + Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay + Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển + Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường - Rừng đặc dụng: Được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường. Rừng đặc dụng bao gồm: + Vườn quốc gia; khu bảo tồn thiên nhiên (gồm hai loại là khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài – sinh cảnh). - Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: 11 + Rừng sản xuất là rừng tự nhiên; + Rừng sản xuất là rừng trồng; + Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận.
Phát triển rừng Phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng nghèo và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng Như vậy, có thể hiểu theo nghĩa rộng, phát triển rừng bao gồm cả việc bảo vệ, trồng mới, trồng lại rừng sau khai thác, khoanh nuôi, phục hồi, cải tạo rừng, nâng cao giá trị cung cấp của rừng. Phát triển tài nguyên rừng có quy hoạch và hợp lý sẽ có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ phát triển đa dạng sinh học song song với phát triển kinh tế giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân và đảm bảo an ninh quốc phòng. Khái niệm lâm nghiệp Khái niệm lâm nghiệp Ngành lâm nghiệp, theo định nghĩa của FAO được quốc tế công nhận như sau: “Lâm nghiệp là một ngành nghề kinh tế, gồm các hoạt động kinh tế chính liên quan đến sản xuất hàng hóa từ gỗ (gỗ tròn phục vụ công nghiệp, gỗ trụ mỏ, gỗ xẻ, gỗ ván, bột giấy, giấy và đồ gỗ nội thất), sản xuất các sản phẩm phi gỗ và dịch vụ liên quan đến rừng”. Phát triển lâm nghiệp hướng tới việc thành lập các khu rừng trồng mới, duy trì và cải thiện những khu vực rừng hiện có, đồng thời khai thác, chế biến lâm sản và các hoạt động liên quan khác.
Xã hội hóa lâm nghiệp Trong lâm nghiệp cũng đã nói tới quá trình xã hội hóa nghề rừng từ hai thập kỷ gần đây khi lâm nghiệp xã hội được hình thành và thừa nhận như là một loại hình lâm nghiệp có sự tham gia của người dân. Xã hội hóa trong ngành lâm nghiệp hay xã hội hóa nghề rừng được hiểu là sự tham gia rộng rãi của các chủ thể trong xã 12 hội như hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng và các tổ chức vào thực hiện các hoạt động gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến lâm sản và dịch vụ môi trường, mang lại lợi ích thiết thực cho các chủ thể tham gia, mà trước đó các hoạt động này do các cơ quan Nhà nước, các thành phần kinh tế Nhà nước và tập thể quản lý và thực hiện là chủ yếu. Đồng thời xã hội hóa nghề rừng còn là một quá trình nhận thức qua việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục mọi tầng lớp nhân dân, đơn vị tổ chức xã hội, đoàn thể, các cấp cùng ngành cùng tham gia thực hiện các hoạt động lâm nghiệp trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Như vậy, xã hội hóa nghề rừng được xem như là một phương thức, một công cụ để hỗ trợ thúc đẩy phát triển rừng, phát triển lâm nghiệp.