Tổng quan nghiên cứu

Huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh là địa bàn miền núi vùng sâu với địa hình chia cắt mạnh, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 92% tổng diện tích tự nhiên (tương đương hơn 52.000 ha) và hơn 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Dao chiếm 41,6%. Bước vào giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại huyện ở mức rất cao khi chiếm tới 51,1% tổng số hộ dân toàn địa bàn. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 chỉ đạt 18 triệu đồng/người/năm, tương đương khoảng 26% mức thu nhập bình quân chung của tỉnh Quảng Ninh. Đáng chú ý, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trong độ tuổi thanh niên chiếm xấp xỉ 30% tổng số hộ cận nghèo, tạo nên thách thức lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội lâu dài.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán giảm nghèo thiếu tính bền vững và nguy cơ tái nghèo cao tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo đa chiều; đánh giá khách quan thực trạng công tác giảm nghèo huyện Ba Chẽ giai đoạn 2016-2020; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững.

Phạm vi nghiên cứu không gian bao quát toàn huyện Ba Chẽ với 3 xã đại diện khảo sát thực địa gồm Đồn Đạc, Đạp Thanh và Lương Mông. Phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2017-2019 và số liệu sơ cấp thu thập năm 2019. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 6% đến 7%/năm, hướng tới đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống mức 8,18% (tương ứng còn khoảng 450 hộ nghèo) vào năm 2020 theo định hướng chỉ đạo của Tỉnh ủy Quảng Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa Lý thuyết phát triển bền vững và Khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh, cùng chuẩn tiếp cận nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Cơ sở lý thuyết khẳng định đói nghèo không chỉ thuần túy là sự thiếu hụt về mặt tiền tệ mà là tình trạng bị tước đoạt các quyền cơ bản và cơ hội phát triển toàn diện của con người.

Luận văn làm rõ 4 khái niệm nền tảng: nghèo tuyệt đối (không đáp ứng được các nhu cầu sinh tồn tối thiểu), nghèo tương đối (mức sống nằm dưới mức trung bình của cộng đồng), giảm nghèo bền vững (quá trình cải thiện thu nhập đi đôi với nâng cao năng lực tự phục hồi trước rủi ro thiên tai, dịch bệnh) và chuẩn nghèo đa chiều. Hệ thống chỉ tiêu đa chiều bao gồm tiêu chí thu nhập (chuẩn nghèo nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng) và 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) được đo lường qua 10 chỉ số thiếu hụt cụ thể.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Niên giám thống kê huyện Ba Chẽ, các văn bản báo cáo tổng kết của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn liên tục trong 3 năm 2017, 2018 và 2019. Nguồn dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp tại 3 xã đại diện thuộc các tiểu vùng sinh thái của huyện trong năm 2019.

Cỡ mẫu khảo sát thực tế gồm 120 hộ gia đình. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng, chia đều cho 3 nhóm đối tượng: hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo. Phương pháp này đảm bảo tính đại diện cao cho các thành phần dân tộc thiểu số và các bậc thu nhập khác nhau. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phân tích cơ cấu kinh tế. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác các chỉ tiêu chuyển dịch thu nhập, nhận diện rõ mức độ thiếu hụt từng chiều dịch vụ xã hội và loại trừ các sai lệch thống kê trong đánh giá kinh tế hộ gia đình miền núi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tăng trưởng kinh tế của huyện Ba Chẽ trong giai đoạn nghiên cứu duy trì đà bứt phá ấn tượng. Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành kinh tế nâng từ 15,0% năm 2017 lên 16,6% năm 2019, đưa tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện năm 2017 đạt 722.447 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 20,3% năm 2017 lên 27,0% năm 2019, ngành dịch vụ chiếm 25,3%, trong khi ngành nông, lâm, thủy sản giữ vững vai trò nền tảng với tỷ trọng 47,7% năm 2019.

Công tác giảm nghèo đạt kết quả nổi bật khi tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 6% đến 7%/năm, kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ mức 51,1% năm 2015 xuống dưới 15% vào cuối năm 2019. Về tư liệu sản xuất, toàn huyện có 48.844 ha đất rừng sản xuất, trong đó đất có rừng đạt hơn 45.000 ha, đóng góp hơn 55% tổng nguồn thu của các hộ gia đình nông thôn. Tuy nhiên, điều tra thực địa cho thấy một phát hiện đáng chú ý: khoảng 30% hộ nghèo và cận nghèo là các cặp vợ chồng trẻ, thiếu việc làm ổn định và thiếu kinh nghiệm tích lũy tài chính.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua biểu đồ đường tăng trưởng kinh tế và bảng cơ cấu thu nhập hộ nông dân. Kết quả cho thấy sinh kế của người dân huyện Ba Chẽ phụ thuộc phần lớn vào kinh tế lâm nghiệp và khai thác các sản phẩm phụ như trà hoa vàng, ba kích, gỗ keo.

Phân tích nguyên nhân đói nghèo cho thấy có tới 62,5% số hộ khảo sát cho rằng nguyên nhân chính là thiếu vốn sản xuất và thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, tập quán canh tác lạc hậu và thói quen chi tiêu phân tán của đồng bào Dao (người nào làm ra tiền thì người đó tiêu, không tích lũy tài chính chung cho hộ gia đình) là rào cản lớn. Một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào các khoản trợ cấp trực tiếp của Nhà nước.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại huyện Văn Chấn (Yên Bái) hay huyện Quan Hóa (Thanh Hóa), việc thực hiện chính sách giảm nghèo tại Ba Chẽ đã có bước chuyển biến từ hỗ trợ cho không sang hỗ trợ có điều kiện. Việc trao quyền và giao vốn gắn với mô hình chuỗi giá trị lâm nghiệp giúp nâng cao năng lực chống chịu rủi ro, giảm thiểu tỷ lệ tái nghèo khi xảy ra thiên tai hoặc biến động giá cả nông sản.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Phát triển chuỗi giá trị lâm nghiệp và cây dược liệu bản địa: Ủy ban nhân dân huyện Ba Chẽ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy hoạch và mở rộng thêm 500 ha diện tích trồng dược liệu (trà hoa vàng, ba kích, sa nhân tím) giai đoạn 2021-2025, phấn đấu nâng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tăng 12% đến 15%/năm.
  • Đổi mới cơ chế tín dụng chính sách và giải ngân có điều kiện: Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Ba Chẽ nâng định mức cho vay ưu đãi lên 80 đến 100 triệu đồng/hộ, thực hiện giải ngân theo chu kỳ sinh trưởng của cây trồng - vật nuôi, đảm bảo 100% hộ nghèo có phương án sản xuất khả thi được tiếp cận vốn trong giai đoạn 2021-2023.
  • Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động trẻ: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện kết nối với các doanh nghiệp, hợp tác xã tổ chức đào tạo nghề kỹ thuật chế biến lâm sản và thâm canh nông nghiệp cho tối thiểu 1.000 lao động nông thôn/năm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 45% vào năm 2025.
  • Đẩy mạnh tuyên truyền, xóa bỏ tư tưởng trông chờ ỷ lại: Khối Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể huyện phát động phong trào hộ gia đình tự nguyện đăng ký thoát nghèo, biểu dương các điển hình làm kinh tế giỏi, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ thanh niên trong nhóm hộ cận nghèo từ 30% xuống dưới 10% đến năm 2025.
  • Hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông và dịch vụ xã hội: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh ưu tiên phân bổ ngân sách nâng cấp 100% đường trục xã, liên thôn và kiên cố hóa hệ thống trạm y tế, trường học tại 5 xã đặc biệt khó khăn trước năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý nhà nước và ban chỉ đạo giảm nghèo cấp huyện, xã: Nắm bắt hệ thống cơ sở thực chứng và các chỉ số đo lường nghèo đa chiều để xây dựng đề án an sinh xã hội, phân bổ ngân sách hỗ trợ đúng đối tượng và sát với thực tế địa bàn miền núi.
  • Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp: Sử dụng tài liệu như một công trình tham khảo chuyên sâu về phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững, phân tích kinh tế hộ và đánh giá chính sách công vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị tài trợ an sinh xã hội: Tiếp cận dữ liệu chi tiết về 10 chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản tại Ba Chẽ, từ đó thiết kế các chương trình viện trợ phát triển cộng đồng, cấp nước sạch và hỗ trợ giáo dục đạt hiệu quả tối ưu.
  • Doanh nghiệp và hợp tác xã nông lâm nghiệp: Khai thác thông tin về tiềm năng đất đai (hơn 48.000 ha rừng sản xuất) và nguồn nhân lực địa phương để xây dựng các dự án liên kết sản xuất, chế biến sâu các sản phẩm OCOP từ dược liệu bản địa.

Câu hỏi thường gặp

  • Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Ba Chẽ tại thời điểm bắt đầu giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu? Theo số liệu thống kê cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại huyện Ba Chẽ chiếm tới 51,1% tổng số hộ dân toàn huyện. Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 18 triệu đồng/người/năm, tương đương 26% mức bình quân chung của tỉnh Quảng Ninh, đặt địa phương vào nhóm huyện khó khăn nhất tỉnh.

  • Luận văn áp dụng chuẩn nghèo nào để khảo sát và phân loại hộ gia đình? Luận văn áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Chuẩn này kết hợp tiêu chí thu nhập (700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn) và mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản cùng 10 chỉ số đo lường cụ thể.

  • Tiềm năng tự nhiên nào đóng vai trò trụ cột trong công tác giảm nghèo tại Ba Chẽ? Tài nguyên rừng là trụ cột quan trọng nhất với hơn 52.000 ha đất lâm nghiệp, chiếm 92% diện tích tự nhiên của huyện. Trong đó, diện tích đất rừng sản xuất đạt 48.844 ha, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cây gỗ lớn và các loài dược liệu quý như ba kích, trà hoa vàng.

  • Đâu là nguyên nhân chủ quan chủ yếu dẫn đến tình trạng nghèo đói tại địa phương? Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ trình độ canh tác lạc hậu, thiếu kỹ năng quản lý tài chính hộ gia đình và tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Ngoài ra, tỷ lệ hộ nghèo trong độ tuổi thanh niên chiếm tới 30% do thiếu việc làm ổn định.

  • Luận văn đề xuất mục tiêu cụ thể nào về công tác giảm nghèo của huyện đến năm 2020? Nghiên cứu đề xuất mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 6% đến 7%/năm, phấn đấu đến cuối năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm xuống mức 8,18% (còn khoảng 450 hộ/5.500 hộ dân), đồng thời tăng thu nhập bình quân của hộ nghèo lên gấp 2,5 lần so với năm 2015.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều và phương pháp đánh giá sinh kế bền vững tại địa bàn miền núi, dân tộc thiểu số.
  • Phản ánh bức tranh kinh tế huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017-2019 với tốc độ tăng giá trị sản xuất đạt 16,6% và tỷ lệ hộ nghèo giảm từ trên 51,1% xuống dưới 15%.
  • Nhận diện chính xác vai trò then chốt của kinh tế đồi rừng (chiếm hơn 45.000 ha rừng sản xuất) và chỉ rõ các rào cản về vốn tín dụng cũng như tập quán canh tác của người dân.
  • Xây dựng 5 nhóm giải pháp đồng bộ gắn liền với phát triển chuỗi dược liệu bản địa và đào tạo nghề cho lực lượng lao động trẻ giai đoạn 2021-2025.
  • Cung cấp mô hình quản lý và chính sách an sinh xã hội thực chứng, có giá trị chuyển giao cao cho các địa phương có điều kiện tương đồng trong cả nước.

Các cơ quan quản lý, chuyên gia phát triển nông thôn và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác các luận cứ khoa học từ công trình này để triển khai hiệu quả Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo bền vững trong giai đoạn mới.