Luận văn: Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện Chợ Mới, An Giang

Luận văn phân tích thực trạng chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Chợ Mới, An Giang, chỉ ra khó khăn và đề xuất các giải pháp thiết thực.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

73
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh công tác giảm nghèo bền vững huyện Chợ Mới

Giảm nghèo bền vững là chủ trương lớn, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển ổn định. Tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, công tác này không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là yêu cầu cấp thiết để cải thiện đời sống người dân, góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Chợ Mới. Là một huyện cù lao với thế mạnh về nông nghiệp, Chợ Mới đối mặt với nhiều đặc thù riêng trong việc triển khai các chính sách. Trong giai đoạn 2016-2020, huyện đã nỗ lực thực thi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, lồng ghép hiệu quả với chương trình xây dựng nông thôn mới. Những nỗ lực này đã mang lại kết quả tích cực, tỷ lệ hộ nghèo Chợ Mới giảm dần qua các năm, cơ sở hạ tầng được đầu tư, và người dân có cơ hội tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu thoát nghèo bền vững, huyện cần một chiến lược toàn diện, không chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính mà còn phải nâng cao năng lực tự chủ cho người dân, phát triển các mô hình giảm nghèo hiệu quả và đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Chợ Mới

Chợ Mới là một huyện cù lao của tỉnh An Giang, được bao bọc bởi sông Tiền và sông Hậu, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng đặt ra những thách thức về giao thông và kết nối. Huyện có diện tích tự nhiên 369,62 km², bao gồm 02 thị trấn và 16 xã. Dân số toàn huyện là 308.021 người, chủ yếu là dân tộc Kinh (99,6%). Nền kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào nông nghiệp và các làng nghề truyền thống như nghề mộc, đan đát, đóng ghe xuồng. Những đặc điểm này định hình phương thức triển khai chính sách an sinh xã hội, đòi hỏi các giải pháp phải phù hợp với điều kiện sản xuất và văn hóa của địa phương. Việc phát triển hạ tầng giao thông và thủy lợi là yếu tố then chốt để khai thác tiềm năng, đồng thời tạo đòn bẩy cho công cuộc giảm nghèo tại đây.

1.2. Mục tiêu chương trình giảm nghèo theo chuẩn đa chiều

Thực hiện Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội, huyện Chợ Mới đã chuyển đổi phương pháp tiếp cận giảm nghèo từ đơn chiều (chỉ dựa vào thu nhập) sang đa chiều. Tiêu chí hộ nghèo đa chiều mới không chỉ xét đến thu nhập mà còn đánh giá mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. Mục tiêu của chương trình là giảm tỷ lệ hộ nghèo một cách thực chất, hạn chế tái nghèo, và cải thiện toàn diện chất lượng sống cho người dân. Cách tiếp cận này giúp xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ, từ đó thiết kế các chính sách can thiệp phù hợp và hiệu quả hơn, đảm bảo nâng cao thu nhập cho người dân đi đôi với việc cải thiện khả năng tiếp cận các phúc lợi xã hội.

II. Phân tích thách thức trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, công tác giảm nghèo tại Chợ Mới vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Thách thức lớn nhất là tính bền vững của kết quả giảm nghèo. Luận văn của tác giả Huỳnh Thị Nguyệt Hồng (2021) chỉ rõ: “hộ nghèo hàng năm có giảm nhưng thiếu bền vững, tái nghèo và phát sinh nghèo còn nhiều”. Nguyên nhân sâu xa đến từ các yếu tố nội tại của hộ nghèo huyện Chợ Mới như trình độ học vấn thấp, thiếu tư liệu sản xuất, và tư tưởng ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước. Bên cạnh đó, các yếu tố khách quan như biến đổi khí hậu, dịch bệnh, và biến động thị trường nông sản cũng là những rủi ro thường trực. Một thách thức khác nằm ở chính sách và cơ chế thực thi. Các chính sách đôi khi còn chồng chéo, phân tán, chưa tạo được động lực mạnh mẽ để người nghèo chủ động vươn lên. Việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ doanh nghiệp, còn hạn chế, khiến gánh nặng chủ yếu vẫn dồn vào ngân sách nhà nước. Để giải quyết những vấn đề này, cần có sự đổi mới trong cả tư duy và hành động.

2.1. Nguy cơ tái nghèo và các rào cản từ người dân

Nguy cơ tái nghèo luôn là một bài toán khó. Nhiều hộ gia đình sau khi thoát nghèo vẫn ở ngưỡng cận nghèo, rất dễ rơi trở lại tình trạng khó khăn khi gặp các cú sốc về sức khỏe, thiên tai, hoặc mất mùa. Một bộ phận người nghèo còn mang tâm lý trông chờ, ỷ lại, chưa chủ động tìm kiếm cơ hội giải quyết việc làm hoặc tham gia các mô hình sản xuất mới. Rào cản về nhận thức và kỹ năng là một trong những nguyên nhân chính. Phần lớn lao động nghèo chưa qua đào tạo, khó tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại, làm giảm năng suất và hiệu quả kinh tế. Do đó, việc thoát nghèo bền vững đòi hỏi phải giải quyết đồng thời cả vấn đề sinh kế và thay đổi nhận thức cho người dân.

2.2. Hạn chế trong cơ chế phối hợp và chính sách hỗ trợ

Nghiên cứu tại Chợ Mới cho thấy “chính sách giảm nghèo còn chồng chéo, phân tán, thiếu tính hệ thống”. Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể đôi khi chưa đồng bộ, dẫn đến việc nguồn lực bị dàn trải và hiệu quả không cao. Một số chính sách hỗ trợ trực tiếp, mang tính “cho không” tuy giải quyết được khó khăn trước mắt nhưng chưa khuyến khích được ý chí tự lực của người nghèo. Thêm vào đó, việc xác định đối tượng thụ hưởng đôi khi còn chưa chính xác. Cần một cơ chế điều phối chặt chẽ hơn, phân định rõ trách nhiệm của từng đơn vị và tăng cường công tác giám sát, đánh giá để đảm bảo chính sách đi đúng hướng và thực sự hiệu quả.

III. Top chính sách an sinh xã hội hỗ trợ giảm nghèo hiệu quả

Để giải quyết các thách thức, huyện Chợ Mới đã triển khai đồng bộ nhiều chính sách an sinh xã hội, tập trung vào các nhóm giải pháp cốt lõi nhằm hỗ trợ toàn diện cho người nghèo. Các chính sách này không chỉ cung cấp sự hỗ trợ tài chính trực tiếp mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài. Nổi bật là chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ về y tế, giáo dục và nhà ở. Thông qua Ngân hàng chính sách xã hội huyện Chợ Mới, nguồn vốn ưu đãi đã đến tay hàng ngàn hộ dân, giúp họ có tư liệu để sản xuất kinh doanh. Đồng thời, việc đảm bảo 100% người nghèo có thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí cho học sinh và hỗ trợ xây dựng nhà ở kiên cố đã giúp giảm bớt gánh nặng chi tiêu, cải thiện sức khỏe và tri thức, qua đó góp phần quan trọng vào mục tiêu giảm nghèo bền vững tại địa phương.

3.1. Hiệu quả từ chính sách vay vốn xóa đói giảm nghèo

Chính sách tín dụng ưu đãi được xem là “cần câu” giúp hộ nghèo huyện Chợ Mới vươn lên. Tính đến nửa đầu năm 2020, Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Chợ Mới đã cho 3.480 hộ vay vốn với tổng số tiền gần 60 tỷ đồng. Trong đó, có 600 hộ nghèo và 805 hộ cận nghèo được tiếp cận nguồn vốn này. Nguồn vốn vay vốn xóa đói giảm nghèo đã được các hộ gia đình đầu tư vào chăn nuôi, trồng trọt, phát triển kinh doanh nhỏ, tạo ra thu nhập ổn định. Việc kết hợp cho vay vốn với chuyển giao kỹ thuật và hướng dẫn cách làm ăn đã tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, giúp hơn 1.600 lao động có việc làm và cải thiện cuộc sống, là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của chính sách này.

3.2. Hỗ trợ y tế giáo dục và nhà ở cho người dân

Bên cạnh hỗ trợ kinh tế, việc đảm bảo các nhu cầu xã hội cơ bản là ưu tiên hàng đầu. Huyện đã cấp 64.004 thẻ BHYT cho người nghèo và 39.262 thẻ cho người cận nghèo, đảm bảo 100% đối tượng được chăm sóc sức khỏe. Về giáo dục, trên 11.473 lượt học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp. Về nhà ở, huyện đã hỗ trợ xây mới 96 căn nhà theo Quyết định 33 của Thủ tướng và vận động xây 489 căn nhà đại đoàn kết. Những hỗ trợ thiết thực này không chỉ giảm bớt gánh nặng tài chính mà còn cải thiện điều kiện sống, nâng cao thể chất và trí tuệ cho thế hệ tương lai, tạo nền tảng vững chắc cho việc thoát nghèo bền vững.

IV. Phương pháp nâng cao thu nhập và giải quyết việc làm

Để đảm bảo thoát nghèo bền vững, việc tạo ra sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân là giải pháp căn cơ nhất. Huyện Chợ Mới đã tập trung vào hai mũi nhọn chính: đào tạo nghề cho lao động nông thônhỗ trợ sản xuất nông nghiệp, phát triển làng nghề. Thay vì chỉ hỗ trợ tài chính, các chương trình này trang bị cho người lao động những kỹ năng cần thiết để tự tạo ra giá trị kinh tế. Hàng loạt lớp dạy nghề thực tiễn như may công nghiệp, sửa chữa xe máy, kỹ thuật làm vườn đã được mở ra, giúp hàng chục ngàn lao động có việc làm ổn định. Song song đó, việc hỗ trợ nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật, cung cấp giống, vật tư và nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả đã giúp tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Việc khôi phục và phát triển 11 làng nghề truyền thống không chỉ bảo tồn văn hóa mà còn giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động tại chỗ, góp phần đa dạng hóa nguồn thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Chợ Mới.

4.1. Vai trò của đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được xác định là khâu đột phá. Trong những năm qua, huyện đã phối hợp mở 1.153 lớp dạy nghề cho 32.296 học viên. Các ngành nghề đào tạo được lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường và thế mạnh của địa phương, đảm bảo học viên sau khi tốt nghiệp có thể tìm được việc làm hoặc tự khởi nghiệp. Nhờ đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của huyện đã tăng lên đáng kể, từ 6,5% lên 13,3%. Chương trình đã góp phần giải quyết việc làm cho 83.912 lao động, trong đó có nhiều người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, giúp họ có thu nhập ổn định và từng bước vươn lên trong cuộc sống.

4.2. Hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và phát triển làng nghề

Với lợi thế là vùng đất nông nghiệp, việc hỗ trợ sản xuất nông nghiệp là trọng tâm trong chiến lược giảm nghèo. Huyện đã triển khai các dự án hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, tập huấn kỹ thuật canh tác, và xây dựng các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Đặc biệt, huyện chú trọng phát triển 11 làng nghề truyền thống đã được tỉnh công nhận, như làng mộc Chợ Thủ, làng đóng ghe xuồng Mỹ Hiệp. Các làng nghề này đã tạo việc làm cho trên 7.800 lao động với thu nhập ổn định. Việc hỗ trợ vốn vay từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm đã giúp các cơ sở mở rộng sản xuất, tạo thêm động lực cho kinh tế địa phương phát triển.

V. Các mô hình giảm nghèo hiệu quả đã triển khai thực tế

Lý thuyết và chính sách chỉ thực sự có giá trị khi được áp dụng thành công vào thực tiễn. Tại Chợ Mới, nhiều mô hình giảm nghèo hiệu quả đã được xây dựng và nhân rộng, trở thành những câu chuyện truyền cảm hứng cho cộng đồng. Những mô hình này không chỉ giúp các hộ gia đình thoát nghèo bền vững mà còn mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế địa phương. Điển hình là mô hình chăn nuôi bò vỗ béo, tận dụng lợi thế về nguồn thức ăn sẵn có tại vùng nông thôn, mang lại lợi nhuận cao và ổn định. Bên cạnh đó, mô hình phát triển kinh tế từ các làng nghề truyền thống cũng cho thấy hiệu quả vượt trội trong việc giải quyết việc làm tại chỗ và nâng cao thu nhập cho người dân. Sự thành công của các mô hình này đến từ sự kết hợp hài hòa giữa chính sách hỗ trợ của nhà nước, nỗ lực của người dân và sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của huyện, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng nông thôn mới.

5.1. Mô hình chăn nuôi bò vỗ béo thành công tại xã Nhơn Mỹ

Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Dễ ở xã Nhơn Mỹ là một ví dụ điển hình. Từ hộ nghèo, nhờ được vay vốn xóa đói giảm nghèo 50 triệu đồng từ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Chợ Mới, ông đã đầu tư vào mô hình nuôi 5 con bò vỗ béo. Sau 8 tháng, ông thu lợi nhuận hơn 10 triệu đồng mỗi con. Nhận thấy hiệu quả, ông tiếp tục duy trì và mở rộng mô hình. Bằng cách chủ động trồng cỏ để đảm bảo nguồn thức ăn và áp dụng đúng kỹ thuật chăm sóc, gia đình ông không chỉ thoát nghèo mà còn có tích lũy. Mô hình này đã được nhân rộng, giúp nhiều hộ nghèo huyện Chợ Mới có thêm nguồn thu nhập ổn định.

5.2. Phát triển làng nghề truyền thống giải quyết việc làm

Việc duy trì và phát triển 11 làng nghề truyền thống là một hướng đi chiến lược. Các làng nghề như mộc ở Long Điền A, đan đát ở Long Giang, đóng ghe xuồng ở Mỹ Hiệp đã giải quyết việc làm cho hơn 7.800 lao động với thu nhập từ 80.000 đồng/ngày trở lên. Chính quyền huyện đã hỗ trợ các làng nghề vay vốn ưu đãi để đầu tư máy móc, mở rộng sản xuất. Sự phát triển của các làng nghề không chỉ tạo ra giá trị kinh tế lớn mà còn góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương, tạo ra các sản phẩm đặc trưng và thúc đẩy du lịch, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội Chợ Mới một cách bền vững.

04/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện chợ mới tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Các khái niệm liên quan đến giảm nghèo, chính sách giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm về nghèo Trên thế giới có rất nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về nghèo, tuy nó được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm hay định nghĩa nào hoàn chỉnh, thống nhất. Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.

Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”. Với khái niệm “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương hay tiêu chí của một quốc gia”, của Ủy ban Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc về châu Á và Thái Bình Dương SCAP mà khái niệm này của SCAP đã được sử dụng làm cơ sở tiếp cận và xây dựng chuẩn nghèo ở Việt Nam trong nhiều năm qua. Trên thực tế, do có sự tương quan khá chặt chẽ giữa mức thu nhập với mức độ tiêu dùng hay thỏa mãn những nhu cầu của con người; với xu hướng chung là mức thu nhập càng cao thì mức tiêu dùng càng cao và mức tiêu dùng này được hiểu là mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản càng cao, căn cứ mức 8 thu nhập những năm qua cũng như tình hình kinh tế xã hội, quan niệm về nghèo được xác định như sau: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo.

Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Người nghèo hoặc hộ nghèo là những người hoặc hộ có thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo hoặc ngưỡng nghèo theo quy định. Trên thế giới đưa ra hai khái niệm nghèo tuyệt đối (hay nghèo cùng cực) và nghèo tương đối. Nghèo tuyệt đối để chỉ những người, những hộ có mức thu nhập thấp hơn một chuẩn nghèo quy định được coi là mức thấp nhất.

Ngân hàng Thế giới đưa ra mức chuẩn nghèo tuyệt đối hiện nay là thu nhập bình quân đầu người dưới 2 USD/người/ngày (theo sức mua tương đương). Chuẩn nghèo tuyệt đối còn được gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm và thường được xác định bằng giá trị của một rổ hàng lương thực - thực phẩm thiết yếu để đảm bảo khẩu phần ăn duy trì với nhiệt lượng tiêu dùng khoảng 2.100 kcal/người /ngày. Còn nghèo tương đối là việc cung cấp không được đầy đủ các nhu cầu về vật chất và phi vật chất cho những nhóm người nhất định trong xã hội so với mức độ sung túc của xã hội. Như vậy, nghèo tương đối không chỉ xác định về mức nhu cầu tối thiểu về lương thực, thực phẩm mà còn cả về mức chi tối thiểu cho các nhu cầu khác gồm nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, học tập, văn hóa, giải trí, y tế, đi lại, thông tin liên lạc,.

Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ mức chuẩn nghèo trở xuống. Tỷ lệ hộ nghèo là tỷ lệ (%) số hộ nghèo so với tổng số hộ hiện có. Tỷ lệ hộ nghèo có thể tính cho cả nước, theo khu vực (thành thị và 9 nông thôn), theo các vùng kinh tế và theo tỉnh, thành phố Như vậy, chuẩn nghèo có thể cũng có sự khác nhau giữa các nước, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể và thay đổi theo thời gian, không gian và trình độ phát triển của mỗi nước. Nghèo có thể được xem xét chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối.

Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại…Khái niệm này nhằm vào phúc lợi kinh tế tuyệt đối của người nghèo, được xếp theo cách tiếp cận “đáp ứng nhu cầu cơ bản tối thiểu” Nghèo tương đối: là sự thiếu hụt của một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng tại một thời điểm nhất định. Tiếp cận này cho thấy nghèo khổ là khái niệm thay đổi theo không gian và thời gian, tập trung vào phúc lợi của tỷ lệ số dân nghèo nhất, có tính đến mức phân bổ phúc lợi của toàn xã hội. Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên cho thấy cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định.

Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định. Tại kỳ họp lần thứ 7, Quốc hội khóa 13 để thực hiện được mục tiêu giảm nghèo hiệu quả và bền vững, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, tiếp tục xây dựng kế hoạch, đề xuất nội dung sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách về giảm nghèo theo hướng đa chiều, trong đó nêu rõ: “Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu (thu nhập) và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản”. 10 Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập.

Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012: 5). Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010: 11). Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.

Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta.

Hiện nay Bộ LĐ-TB&XH đang đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam. Để xác định chuẩn nghèo căn cứ vào:chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ LĐ-TB&XH công bố và chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân Hàng thế giới. Hiện nay, việc áp dụng chuẩn nghèo ở nước ta hiện nay chủ yếu do Bộ LĐ-TB&XH đưa ra. Chuẩn nghèo này được tính toán dựa vào nhu cầu chi 11 tiêu cơ bản của lương thực, thực phẩm (nhu cầu ăn hàng ngày) và nhu cầu chi tiêu phi lương thực, thực phẩm (mặc, nhà ở, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại, giao tiếp xã hội).

Tuy có nhiều quan niệm và định nghĩa về nghèo khác nhau nhưng về bản chất tiêu chí chung để xác định nghèo đó là mức thu nhập để thỏa mãn nhu cầu sống cơ bản của con người: ăn uống, học tập, khám chữa bệnh….gọi chung là dịch vụ xã hội. Và tác giả thống nhất với quan điểm mà Bộ LĐ- TB&XH đã công bố và sử dụng nó trong nội dung luận văn của mình: “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. Khái niệm về giảm nghèo Mục tiêu của nước ta luôn hướng đến là:“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, nhưng để đạt được điều đó thì đòi hỏi phải chú trọng đến công tác giảm nghèo, nhiệm vụ đặt ra đối với công tác giảm nghèo, nâng cao mức sống cho nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nhằm tạo bước chuyển biến tăng nhanh thu nhập, cải thiện điều kiện sinh hoạt và chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Giảm nghèo ở đây bao gồm cả xóa đói và giảm nghèo đồng thời khuyến khích làm giàu hợp pháp, giảm nghèo bền vững gắn với phát triển, tăng trưởng kinh tế, vì người nghèo, làm cho người nghèo được hưởng lợi càng nhiều từ kết quả tăng trưởng đó.

Giảm nghèo được xem là chủ trương, định hướng, mục tiêu cho sự phát triển của đất nước, một đất nước không thể phát triển khi người dân còn nghèo đói. Giảm nghèo không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, Chính phủ hay bất cứ một bộ, ngành, cơ quan, tổ chức nào. Đó là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ