CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHI PHÍ KINH DOANH VÀ GIẢM CHI PHÍ KINH DOANH ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tầm quan trọng của việc giảm chi phí đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của của ngân hàng thương mại 1. Khái quát chung về năng lực cạnh tranh ở các NHTM 1. Các khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các NHTM Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó trong các điều kiện về thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế.
Một doanh nghiệp được xem là có sức mạnh khi nó có thể thường xuyên đưa ra các sản phẩm thay thế, mà các sản phẩm này có mức giá thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách cung cấp các sản phẩm tượng tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hay tốt hơn. Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP được đánh giá qua các yếu tố: năng lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản trị điều hành; mạng lưới hoạt động; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; …trong đó, năng lực tài chính và năng lực công nghệ được xem là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP.2 Tính đặc thù trong cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Ngân hàng cũng như bất kỳ loại hình công ty nào đều phải đối mặt với cạnh tranh, các NHTM không chỉ bị áp lực cạnh tranh từ các NHTM mà còn từ tất cả các tổ chức tín dụng khác đang hoạt động kinh doanh trên thương trường, với mục tiêu tăng thị phần, mở rộng thị trường. Cạnh tranh giữa các NHTM có những đặc thù sau: - Kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực hết sức nhạy cảm, chịu tác động bởi nhiều yếu tố về kinh tết, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống, văn hóa… mỗi nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng có tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh.
Ví dụ chỉ là một tin đồi thổi cũng có thể gây ra những đợt sóng lớn, thậm chí là những chấn động mạnh mẽ về tâm lý, hoặc có thể đe dọa vị thế của ngân hàng trên thị trường. Một ngân hàng hoạt động kém thanh khoản cũng có thể trở thành gánh nặng đối với các ngân hàng khác và dân chúng trên địa bàn. Vì vậy trong kinh doanh việc cạnh tranh để từng bước mở rộng khách hàng, mở rộng thị phần, những cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi đối thủ là các NHTM bị suy yếu dẫn đến sụp đổ thì hậu quả mang lại thường là rất lớn, hệ lụy đến ngân hàng nhà nước và thậm chí là đổ vỡ luôn chính ngân hàng đó do tác động dây chuyền. - Hoạt động kinh doanh của ngân hàng có liên quan đến tất cả các tổi chúc kinh tế, chính trị, xã hội, đến từng cá nhân thông qua các hoạt động như gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ hác, đồng thời trong hoạt động kinh doanh của mình các ngân hàng cũng đều mở tài khoản cho nhau để phục vụ các khách hàng chung.
Chính vì thế nếu như một ngân hàng khó khăn trong thanh khoản, có nguy cơ đổ vỡ thì tất yếu sẽ tác động đến các NHTM khác. Không những thế các tổ chức phi tài chính cũng bị hệ lụy. Đây là điều mà các NHTM khong giờ mong muốn. Trong hoạt động kinh doanh 6 các ngân hàng luôn phải cạnh tranh lẫn nhau để dành lại thị phần, những lại luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường cạnh tranh lành mạnh để tránh rủi ro hệ thống.
- Do hoạt động của các ngân hàng có liên quan đến tất cả các chủ thể, đến mọi mặt của hoạt động kinh tế xã hội nên để tránh sự hoạt động các ngân hàng thương mại mọi hiểm có nguy cơ đổ vỡ hệ thống, NHNN đều giám sát chặt chẽ thị trường nà và đưa ra các hệ thống cảnh báo sớm để phòng ngừa rủi ro. Thực tiễn cạnh tranh các ngân hàng không giống các loại hình kinh doanh khác. - Hoạt động của các NHTM liên quan đến lưu chuyển tiền tệ không chỉ trong phạm vi một nước mà còn liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho các hoạt động đối ngoại, do vậy kinh doanh trong hệ thống ngân hàng phải chịu nhiều yếu tố trong nước và quốc tế như: Môi trường pháp luật, tập quán kinh doanh trong nước, các thông lệ quốc tế, đặc biệt là các định chế, quy định về tài chính. Tóm lại là cạnh tranh trong hệ thống NHTM chịu sự điều tiết rất phức tạp từ mọi mặt.
Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh ở các NHTM Đối thủ tiểm ẩn - Tác nhân từ phía NHTM mới tham gia: Các NHTM mới tham gia thị trường với những lợi thế quan trọng như: + Có động cơ và ước vọng giành được thị phần + Đã tham khảo kinh nghiệm từ nhưng NHTM đang hoạt động Như vậy, bất cứ lúc nào các NHTM hiện tại cũng sẽ có một mối đe dọa về khả năng thị phần sẽ bị chia sẻ; ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sức mạnh mà các NHTM hiện tại chưa thể có thông tin và có chiến lược ứng phó 7 Cạnh tranh nội bộ ngành Đây là nhưng mối lo thường trực của các NHTM trong kinh doanh. Đối thủ canh tranh ảnh hưởng đến chiếm lược hoạt động kinh doanh của NHTM trong tương lai. Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh. Khách hàng Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành ngân hàng là tất cả các cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là các ngân hàng khác cũng đều có thể vừa là người mua các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa là người bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng.
Những người bán sản phẩm thông qua các hình thức tiền gửi, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều có mong muốn là nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó những người mua sản phẩm dịch vụ của ngân hàng lại muốn mình chi trả một khoản chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế. Như vậy, Ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mẫu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiểu quả và giữ được chân khách hàng cũng như có được nguồn vốn thu hút hiệu quả rẻ nhất có thể. Sản phẩm thay thế Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm. Các trung gian này cung cấp cho khách hàng nhưng sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho người mua sản phẩm có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn.
Điều này tất yếu sẽ tác động làm giảm bớt đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảm thị phần. Cạnh tranh, thi hệ thống NHTM sẽ mạnh hơn và có sức đàn hồi tốt hơn sau các cú sốc của nền kinh tế. 8 Năng lực chủ quan của các ngân hàng Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của các NHTM, trên thực tế, nhóm các nhân tố thuộc về nội tại hệ thống NHTM cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng này, chúng bao gồm : - Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng - Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM - Công nghệ cung ứng dịch vụ của ngân hàng - Cấu trúc tổ chức - Chất lượng nhân viên - Danh tiếng và uy tín của NHTM Bên cạnh đó cũng có nhưng tác động chủ yếu như sau : - Tác nhân về đặc điểm sản phẩm - Tác nhân về đặc điểm khách hàng 1. Khái quát chung về chi phí kinh doanh ở các NHTM 1.
Khái niệm và phân loại chi phí kinh doanh Chi phí kinh doanh là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí phát sinh từ khâu mua vào dự trữ đến khâu bán ra và các chi phí có liên quan đến đầu tư vốn ra ngoài và được bù đắp bằng thu nhập hoặc doanh thu kinh doanh của doanh nghiệp thương mại trong kỳ đó.Trong nền kinh tế thị trường các chi phí đã nêu ở trên đều biểu hiện bằng tiền, vì vậy có thể nói rằng chi phí của doanh nghiệp thương mại được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những hao phí vật chất sức lao động liên quan đến quá trình hoạt động kinh tế của doanh nghiệp thương mại trong một thời kỳ nhất định, đồng thời được bù đắp thu nhập hoặc doanh thu kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp được biểu hiện hao phí sức lao động 9 cá biệt của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, nó là căn cứ để xác định số tiền phải bù đắp thu nhập của doanh nghiệp trong thời kỳ đó. Mặt khác do trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định có nhiều loại chi phí phát sinh không phục vụ sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp trong kỳ và đồng thời cũng không được bù đắp bằng doanh thu hoặc thu nhập của doanh nghiệp trong thơì kỳ đó.
Vì vậy nhà quản trị doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp để có những biện pháp quản lý chi phí kinh doanh một cách thích hợp, cụ thể với từng khoản mục chi phí.