CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Khái niệm và vai trò của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động a) Khái niệm việc làm Có thể hiểu, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội.
Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm: Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật. Ở Việt Nam, khái niệm về việc làm được hiểu theo khoản 1 Điều 9 Bộ luật Lao động 2019: "Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm." Như vậy, việc làm được hiểu đầy đủ là hoạt động của con người nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm. b) Khái niệm chính sách tạo việc làm cho người lao động Theo James Anderson (2017) Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm.
Theo Lê Chi Mai Chính (2021) Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Theo Nguyễn Đình Tấn Chính (2019), chính sách thường được thể chế hóa trong các quyết định, hệ thống pháp luật, các quy chuẩn hành vi và những quy định khác. Dựa vào các nhận định trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng, chính sách là công cụ tác động qua lại giữa các nhóm, tập đoàn xã hội liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với tổ chức, hoạt động của nhà nước, của các đảng phái, thiết chế khác 8 nhau của hệ thống chính trị. Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp NLĐ phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả NLĐ và NSDLĐ, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ, chức năng của nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Nhà nước đóng vai trò và chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết việc làm thông qua các công cụ quản lý nhà nước. Một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để giải quyết các vấn để của xã hội nói chung và giải quyết việc làm nói riêng đó là chính sách. Tóm lại: Chính sách giải quyết việc làm có thể hiểu là những biện pháp của nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải quyết các vấn đề về việc làm như thất nghiệp, khuyến khích NLĐ tự tạo việc làm, hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho NLĐ.
c) Vai trò của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động Vai trò của chính sách việc làm trong nền kinh tế thể hiện ở một số mặt dưới đây: - Chính sách việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an sinh, ổn định và phát triển xã hội. - Chính sách việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị xã hội. Hoạch định và thực hiện không tốt chính sách việc làm sẽ dẫn đến những hậu quả, những thiệt hại trực tiếp về kinh tế và cả về chính trị, xã hội cho Việt Nam. - Chính sách việc làm còn có mối quan hệ biện chứng với các chính sách khác như chính sách kinh tế và chính sách xã hội, đặc biệt là: chính sách dân số, chính sách giáo dục và đào tạo, chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách công nghệ, chính sách bảo hiểm xã hội.
- Nếu thực hiện tốt chính sách việc làm thì sẽ có tác động mạnh mẽ đến việc thúc đẩy nguồn nhân lực được sử dụng hiệu quả, giúp giảm thiểu tình trạng thất nghiệp, giảm chi phí trợ cấp thất nghiệp. Ngược lại, nếu chưa giải quyết tốt chính sách việc làm, đặc biệt trong những thời kỳ kinh tế suy thoái thì tỉ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên, kéo theo các tệ nạn xã hội có thể tăng lên và nguy cơ đói nghèo sẽ gia tăng, vấn đề an sinh xã hội. Thực hiện tốt chính sách việc làm có tác động thúc đẩy sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả, tác động tích cực đến giảm thiểu tình trạng thất nghiệp, giảm chi phí trợ cấp thất nghiệp. 9 Chính sách việc làm là một bộ phận rất quan trọng của chính sách xã hội được thể chế hóa bằng luật pháp của Nhà nước nhằm giải quyết, đảm bảo việc làm cho người lao động, thúc đẩy sự phát triển, công bằng và tiến bộ xã hội.
Nội dung của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động Quy trình xây dựng và thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động bao gồm 4 nội dung như trong hình sau: (1) Xây dựng chính sách giải quyết việc làm cho người lao động; (2) Thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động; (3) Thanh tra, giám sát thực chính sách giải quyết việc làm cho người lao động và (4) Đánh giá lại và điều chỉnh chính sách giải quyết việc làm cho người lao động. Xây dựng chính sách giải quyết việc làm cho người lao động Đối tượng thực hiện Chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của NLĐ, có liên quan tới nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Vì vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện cần huy động sự tham gia của các chủ thể. Các chủ thể bao gồm: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ; Hội đồng nhân dân và UBND các cấp; Các tổ chức chính trị, xã hội; Cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền thực hiện chính sách và nhân dân nhằm đưa chính sách vào thực tế.
Trong quá trình triển khai, chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ, các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương luôn giữ vai trò điều tiết, định hướng các hoạt động thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ bằng những công cụ quản lý của mình, giúp cho quá trình triển khai thực hiện chính sách luôn bám sát được mục tiêu của chính sách đã đề ra. Đối tượng thụ hưởng chính sách Đối tượng thụ hưởng chính sách giải quyết việc làm cho NLĐ là những người đang trong độ tuổi lao động nhưng chưa có việc làm. Ban hành các loại chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho NLĐ - Chính sách hỗ trợ tín dụng cho người lao động để tìm và tạo việc làm Số lượng việc làm thường không đáp ứng nhu cầu của NLĐ. Do đó một cách hiệu quả nhất là khuyến khích NLĐ khởi nghiệp, tự tìm và tạo việc làm cho bản thân.
Tuy vậy, yếu tố cần thiết đầu tiên cấn đáp ứng đó là có nguồn vốn để khởi nghiệp. Nhưng không phải đối tượng nào cũng có thể vay vốn từ ngân hàng, bên cạnh đó, hình thức vay vốn ngân hàng chỉ giải quyết cho những cá nhân nhỏ lẻ và có nguồn lực đảm bảo cho vốn vay. Để đa số NLĐ có nhu cầu khởi nghiệp và có 10 nguồn vốn phục vụ cho những đầu tư ban đầu, Nhà nước đưa ra chính sách về hỗ trợ tín dụng, từ đó triển khai xuống địa phương để thực hiện chính sách này. Điều này đáp ứng được số lượng lớn nhu cầu NLĐ cần nguồn vốn cho khởi nghiệp đồng thời tránh được tình trạng tín dụng đen.
Trong xã hội để giảm gánh nặng về lãi cho người khởi nghiệp trong quá trình hoạt động ban đầu. Trách nhiệm của địa phương là bố trí ngân sách, phối hợp kêu gọi các nguồn khác để thành lập một loại hình quỹ tín dụng nhằm sử dụng cho mục đích giải quyết việc làm tại địa phương đó. Việc lập, quản lý và sử dụng quỹ này được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. - Chính sách đào tạo nghề Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển KT-XH xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp.
Chất lượng nguồn lao động là yếu tố then chốt quyết định sự phát triển KT-XH của mỗi địa phương. Một trong những phương pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động là hệ thống giáo dục của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng phải hiện đại, phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và phù hợp với đối tượng người học. Trong hệ thống giáo dục của một quốc gia sẽ gồm nhiều cấp bậc khác nhau trong đó đào tạo nghề là một khâu quan trọng và tác động rõ rệt đến chất lượng đội ngũ lao động. Đào tạo nghề đươc xem như là giải pháp gắn với phát triển KT-XH, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho NLĐ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ dân trí.
- Chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn để tạo việc làm Nhà nước thực hiện các biện pháp sau đây nhằm hỗ trợ các hoạt động đầu tư trong nước.