phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng 11 tiết. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho ngƣời lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH ở nƣớc ta. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho ngƣời lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Chƣơng 3: Thực trạng giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho ngƣời lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Nghệ An.
Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cƣờng giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho ngƣời lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở tỉnh Nghệ An. 6 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, ĐTH 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ BẢO ĐẢM ĐỜI SỐNG CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG SAU KHI BỊ THU HỒI ĐẤT 1. Tổng quan một số công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho ngƣời lao động sau khi bị thu hồi đất Liên quan đến vấn đề bảo đảm đời sống đối với ngƣời dân có đất bị thu hồi có khá nhiều nhà khoa học nƣớc ngoài nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là một số công trình sau đây: - Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cƣ nông thôn - thành thị (Hanis - Todaro) [77] Do quá trình đô thị hoá diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chính vì vậy, việc dân cƣ ở khu vực nông thôn, ngoại thành di chuyển vào thành thị là một xu hƣớng có tính quy luật trong quá trình phát triển của tất cả các nƣớc, đặc biệt là đối với các nƣớc phát triển trong giai đoạn hiện nay. Theo mô hình này thì ngƣời di cƣ sẽ xem xét các cơ hội khác nhau trong thị trƣờng lao động dựa vào tối đƣa hoá lợi ích dự kiến có đƣợc từ việc di cƣ bằng cách so sánh mức thu nhập dự kiến có đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị với mức thu nhập trung bình đẳng có ở nông thôn. Lúc này nếu thu nhập dự kiến (thu nhập kỳ vọng) cao hơn thu nhập thực tế hiện có thì họ sẽ quyết định di cƣ. Thu nhập dự kiến thu đƣợc của lao động di chuyển tuỳ thuộc vào khả năng có thể kiếm đƣợc việc làm ở thành thị, mức lƣơng ở đó cũng nhu độ tuổi của ngƣời di cƣ.
Lúc này Tòa án đã đề xuất với Chính phủ giảm mức lƣơng ở thành thị, xoá bỏ những ảnh hƣởng đến giá cả của các nhân tố sản xuất, tăng việc làm ở nông thôn, áp dụng công nghệ và có chính sách phù hợp sẽ là biện pháp tạo thêm việc làm. 7 z Khi áp dụng mô hình này vào các nƣớc đang phát triển cho thấy bên cạnh khu vực kinh tế hiện đại ở thành thị (khu vực chính quy) còn có một khu vực kinh tế thu hút một số ngành nghề nhƣ: thợ thủ công, dịch vụ sửa chữa nhỏ buôn bán nhỏ tự tạo việc làm hoặc kinh doanh có thuê nhân công và thoả thuận ngoài hệ thống luật pháp chính thức với giá nhân công rẻ. Đây chính là khu vực hiện nay đang thu hút một lực lƣợng lao động rất lớn của những nƣớc này vào làm việc - khu vực phi chính thức. Thực tế cho thấy, việc phát triển khu vực kinh tế phi chính thức đã, đang và sẽ có những tác dụng rất to lớn trong việc GQVL, tăng thu nhập, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị.
Đồng thời phải không ngừng đầu tƣ phát triển cho khu vực nông thôn để nâng cao mức sống của họ, tăng cƣờng cơ sở vật chất kỹ thuật, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn cũng nhƣ phát triển nhiều mô hình sản xuất kinh doanh phù hợp với khu vực nông thôn để tạo thêm nhiều việc làm ở khu vực này. - Mô hình lựa chọn công nghệ phù hợp, khuyến khích giá, tạo việc làm [77] Mô hình này chỉ ra rằng để sản xuất ra một sản lƣợng mong muốn, các nhà sản xuất sẽ phải đứng trƣớc những lựa chọn lớn: một là để mua các yếu tố của quá trình sản xuất nhƣ lao động, nguyên vật liệu.thì có nhiều mức giá khác nhau, do đó phải lựa chọn mức giá nào cho phù hợp để có chi phí sản xuất là thấp nhất. Hai là để đạt đƣợc lợi nhuận cao nhất các nhà sản xuất sẽ phải lựa chọn loại công nghệ phù hợp, đó có thể là công nghệ hiện đại thì sẽ phải chi nhiều vốn hay công nghệ ở một mức độ để sử dụng nhiều lao động. Nếu công nghệ hiện đại, tốn nhiều vốn so với giá lao động thì nhà sản xuất sẽ lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều lao động.
Ngƣợc lại, nếu giá lao động tƣơng đối cao thì các hãng sẽ lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều vốn. Việc áp dụng mô hình này ở các nƣớc đang phát triển sẽ tạo đƣợc nhiều việc làm cho ngƣời lao động vì ở các nƣớc này lực lƣợng lao động dồi dào nhƣng lại thiếu vốn vì vậy công nghệ mà họ thƣờng sử dụng là công nghệ sử dụng nhiều lao động để nhằm tận dụng tối đƣa lợi thế này. Chính vì vậy, Chính phủ ở các quốc gia này cần đƣa ra những chính sách nhằm điều chỉnh lại giá cả, thông qua việc hạ thấp giá trị tƣơng đối của sức lao động sẽ góp phần không chỉ tạo thêm nhiều việc 8 z làm hơn mà còn sử dụng tốt hơn các nguồn vốn khan hiếm nhờ áp dụng công nghệ phù hợp. Agricultural land conversion for industrial and commercial use: Competing interests of the poor.
In ADB (Ed.), Markets and Development Bulletin (pp. Hanoi, Vietnam: Asian Developmen Bank. Chuyển đổi đất nông nghiệp để sử dụng công nghiệp và thƣơng mại: Cạnh tranh lợi ích của ngƣời nghèo. Trong Ngân hàng Phát triển Châu Á (Ed.), Thị trường và Phát triển (pp.
Hà Nội, Việt Nam: Asian Developmen Bank. Đã đề cập trong bối cảnh của sự mất mát ngày càng tăng của đất nông nghiệp do đô thị hóa và công nghiệp hóa ở nhiều vùng ngoại vi các thành phố lớn của Việt Nam, làm mất công ăn việc làm của ngƣời lao động nông nghiệp và đe dọa an ninh lƣơng thực, ảnh hƣởng đến sinh kế của hộ gia đình nông dân. Vì vậy chính sách của chính phủ có thể giúp các hộ gia đình bị mất hoặc đất thay đổi đa dạng hóa sinh kế của họ bằng cách cung cấp cho họ với một lô đất ở vị trí đắc địa để làm kinh doanh. Những ngƣời mất nhiều hơn 30 phần trăm đất nông nghiệp của họ sẽ đƣợc bồi thƣờng bằng một thửa đất phi nông nghiệp, có thể đƣợc sử dụng nhƣ một tiền đề cho hộ kinh doanh nhƣ mở một cửa hàng, hoặc để cho thuê chỗ ở để duy trì đời sống các hộ gia đình bị mất đất.
- Tác động của việc mất đất nông nghiệp phân phối thu nhập của các hộ gia đình ở các khu vực ven đô Hà Nội, Việt Nam của tác giả Tuyên Quang Trần ( tuyentq@vnu.vn ) MPRA giấy từ Thƣ viện Đại học Munich, Đức. Nghiên cứu này đã cung cấp những bằng chứng kinh tế đầu tiên mà mất đất do đô thị hóa và công nghiệp hóa không ảnh hƣởng đến xác suất của một hộ gia đình thuộc nhóm thu nhập đặc biệt nhƣ ngƣời nghèo, tầng lớp trung lƣu hay giàu có trong khu vực ven đô thị Hà Nội, Việt Nam. Kết quả cũng cho thấy rằng đất nông nghiệp giữ đƣợc không tƣơng quan thống kê với khả năng của các hộ gia đình đang ở trong một nhóm có thu nhập nhất định. Tuy nhiên, các yếu tố khác, bao gồm giáo dục của hộ gia đình, tiếp cận tín dụng, tài sản và đặc biệt là sự tham gia của phi nông nghiệp của họ trƣớc khi bị mất đất nông nghiệp, đã đƣợc tìm thấy để tăng cơ hội của các hộ gia đình di chuyển lên các bậc thang thu nhập.
9 z - Mối quan hệ giữa đất đai và sinh kế nông thôn ở Việt Nam. Farmland loss and livelihood outcomes: a mocroeconnometric analysis of household surveys in Vietnam. Journal of the Asia Pacific Economy, 19 (3), 423-444. Tác giả đã sử dụng dữ liệu mới thiết lập từ khảo sát hộ gia đình của tác giả trong một khu tiểu đô thị của Hà Nội, Việt Nam, nghiên cứu này là lần đầu tiên sử dụng phƣơng pháp kinh tế lƣợng để điều tra mối quan hệ giữa mất đất nông nghiệp (do đô thị hóa và công nghiệp) và chiến lƣợc sinh kế của hộ gia đình.
Kết quả từ mô hình logit đã cung cấp các bằng chứng kinh tế đầu tiên mà mất đất tăng với khả năng của các hộ áp dụng một chiến lƣợc chuyên về một hoạt động phi nông nghiệp duy nhất (không chính thức công ăn việc làm hoặc các doanh nghiệp hộ gia đình trả tiền) hoặc đa dạng hóa trong nhiều hoạt động. Điều này cho thấy nhiều hộ gia đình đã chủ động đối phó với các cú sốc mất đất. Nhƣ vậy chiến lƣợc thích ứng trong bối cảnh mới có thể giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào đất nông nghiệp cũng nhƣ có thể giúp đỡ nâng cao phúc lợi của họ. Vì vậy, một ý nghĩa có thể ở đây là tăng của mất đất không nên đƣợc xem nhƣ một hiện tƣợng hoàn toàn tiêu cực bởi vì nó có thể cải thiện phúc lợi hộ gia đình bằng cách thúc đẩy các hộ gia đình để thay đổi hoặc đa dạng hóa sinh kế của họ.
Bên cạnh đó, một số biến liên quan đến tài sản hộ gia đình nhƣ giáo dục, nông nghiệp, và thứ vị trí của ngôi nhà đã đƣợc tìm thấy có liên quan chặt chẽ với sự tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp. Dựa trên bằng chứng từ các phân tích kinh tế, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách có thể giúp đa dạng hóa các hộ gia đình hoặc chuyên hoạt động phi nông nghiệp hấp dẫn, trong bối cảnh đất nông nghiệp bị thu hẹp do đô thị hóa nhanh chóng trong khu vực tiểu đô thị của Hà Nội. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nƣớc về giải quyết việc làm và bảo đảm đời sống cho ngƣời lao động sau khi bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH 1.