Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại Việt Nam đã thúc đẩy sự chuyển dịch mạnh mẽ về mặt không gian kinh tế, kéo theo việc chuyển đổi hơn 600.000 hecta đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp, thương mại và hạ tầng giao thông. Sự chuyển dịch này tác động trực tiếp đến sinh kế của hơn 627.000 hộ gia đình với khoảng 2,5 triệu nhân khẩu nông thôn. Quận Long Biên được thành lập từ năm 2004 với tổng diện tích tự nhiên 5.993,03 hecta, sở hữu quy mô không gian lớn nhất trong các quận nội thành Hà Nội. Dù cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 10,7% và năm 2011 đạt 11%, áp lực an sinh xã hội vẫn gia tăng rõ rệt khi 13 trên 14 phường vốn là các vùng sản xuất nông nghiệp thuần túy.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là mâu thuẫn giữa tốc độ thu hồi đất nhanh chóng và khả năng hấp thụ lao động nông nghiệp vào khu vực phi nông nghiệp. Khi đất canh tác bị thu hẹp, nhóm lao động nông nghiệp không qua đào tạo đối mặt với nguy cơ thất nghiệp kéo dài. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế chính trị về việc làm, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân bị mất đất trên địa bàn quận Long Biên giai đoạn 2004-2010, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ và có tính khả thi đến năm 2020. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc tối ưu hóa tỷ lệ chuyển đổi nghề nghiệp, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng 131.106 người trong độ tuổi lao động, đồng thời góp phần duy trì mức tăng thu nhập bình quân đầu người đạt trên 37 triệu đồng mỗi năm một cách bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba trụ cột lý thuyết kinh tế kinh điển để giải thích cơ chế chuyển dịch và tạo việc làm cho người lao động mất tư liệu sản xuất:

Thứ nhất, Lý thuyết việc làm của John Maynard Keynes nhấn mạnh vai trò của tổng cầu và quy mô vốn đầu tư. Keynes chỉ rõ việc làm phụ thuộc trực tiếp vào khối lượng đầu tư của Nhà nước và khu vực tư nhân. Mở rộng đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật và công nghiệp là tiền đề vật chất để tạo chỗ làm việc mới, từ đó nâng cao thu nhập và kích thích tiêu dùng xã hội.

Thứ hai, Mô hình chuyển dịch lao động hai khu vực của Arthur Lewis phân tích sự di chuyển nguồn nhân lực từ khu vực nông nghiệp truyền thống có năng suất biên bằng không sang khu vực công nghiệp hiện đại. Sự chênh lệch tiền lương kích thích quá trình di chuyển này, tạo điều kiện cho nhà tư bản tích lũy và tái đầu tư mở rộng quy mô sử dụng lao động.

Thứ ba, Lý thuyết tăng trưởng kinh tế nông nghiệp gió mùa của Harry Oshima bổ sung góc nhìn thực tiễn cho các nước châu Á. Oshima cho rằng cần giải quyết việc làm thông qua đa dạng hóa ngành nghề, phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ tại chỗ để tận dụng thời gian lao động nhàn rỗi trước khi chuyển dịch hoàn toàn sang khu vực hiện đại.

Khung khái niệm cốt lõi của nghiên cứu bao gồm: Việc làm (hoạt động lao động hợp pháp tạo ra thu nhập theo Bộ luật Lao động năm 1994); Giải quyết việc làm (tổng thể các chính sách kinh tế - xã hội kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất); Nông dân bị thu hồi đất (người trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị mất một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất); và Cung - Cầu lao động trong thời kỳ đô thị hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ của Ủy ban nhân dân quận Long Biên, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng các văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn 2004-2010. Dữ liệu sơ cấp được bổ sung thông qua quá trình khảo sát chọn mẫu với quy mô 300 hộ gia đình nông dân bị thu hồi đất tại các phường trọng điểm như Thạch Bàn, Giang Biên, Thượng Thanh và Phúc Đồng.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên hai tiêu chí: mức độ mất đất (thu hồi trên 70% diện tích hoặc thu hồi một phần) và nhóm tuổi lao động (dưới 35 tuổi và từ 35 tuổi trở lên). Phương pháp này giúp phản ánh chính xác sự phân hóa về khả năng thích ứng nghề nghiệp của từng nhóm đối tượng. Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và phân tích tổng hợp nhằm làm rõ mối quan hệ bản chất giữa quyền sở hữu đất đai, tích lũy tư bản và chuyển dịch cơ cấu lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra ba phát hiện thực tiễn quan trọng về bức tranh việc làm tại quận Long Biên giai đoạn 2004-2010:

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa cam kết tuyển dụng của doanh nghiệp và tỷ lệ tiếp nhận lao động thực tế. Mặc dù quy định của thành phố Hà Nội yêu cầu chủ đầu tư khi thu hồi 1 hecta đất nông nghiệp phải tạo việc làm mới cho 10 lao động địa phương, thực tế các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp chỉ tiếp nhận được khoảng 20% đến 30% số lao động thuộc diện giải phóng mặt bằng. Nguyên nhân chủ yếu do người nông dân thiếu kỹ năng công nghiệp, trong khi các cơ sở sản xuất không chủ động tổ chức đào tạo lại.

Thứ hai, sự phân hóa sâu sắc về cơ hội việc làm theo độ tuổi. Nhóm lao động từ 35 tuổi trở lên chiếm tới 60% tổng số người mất việc làm sau thu hồi đất. Đây là nhóm đối tượng chịu tổn thương nặng nề nhất vì khó tiếp cận các chương trình đào tạo nghề mới, có tâm lý ngại thay đổi và bị các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ chối tuyển dụng. Ngược lại, nhóm thanh niên từ 18 đến 25 tuổi có khả năng học nghề tốt nhưng tỷ lệ đã qua đào tạo trường lớp chỉ đạt từ 10% đến 20%, dẫn đến tình trạng làm việc tạm bợ, thiếu tính bền vững.

Thứ ba, cơ cấu việc làm sau chuyển đổi chủ yếu nghiêng về khu vực phi chính thức. Trong tổng số 131.106 người thuộc độ tuổi lao động của quận, có tới 80,9% làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh cá thể hoặc làm dịch vụ tự do. Tỷ lệ nông dân giữ nguyên nghề nông cũ ở các phần đất còn lại chiếm khoảng 67%, chỉ có 13% chuyển sang nghề mới ổn định, trong khi 25% đến 30% rơi vào tình trạng thiếu việc làm thường xuyên. Hậu quả là 53% số hộ gia đình bị thu hồi đất có mức thu nhập thực tế giảm sút so với trước thời điểm giải phóng mặt bằng.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu kinh tế quận Long Biên (Công nghiệp 48,7%, Dịch vụ 41,92%, Nông nghiệp 9%) và bảng thống kê đối chiếu tỷ lệ thất nghiệp theo từng nhóm tuổi trước và sau khi có quyết định thu hồi đất.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Chính sách bồi thường trong thời gian dài chỉ chú trọng chi trả bằng tiền mặt (mức giá 106.000 đồng/m2 theo các quy định cũ) mà chưa gắn liền với gói an sinh xã hội dài hạn. Người dân sau khi nhận tiền đền bù dễ rơi vào tình trạng tiêu dùng thụ động thay vì tái đầu tư vào học nghề hoặc mở rộng sản xuất.

So sánh với các địa phương khác, tỷ lệ giải quyết việc làm cho lao động mất đất của Long Biên (đạt khoảng 45%) thấp hơn đáng kể so với tỉnh Vĩnh Phúc (đạt 75%) và thành phố Đà Nẵng (đạt 60%). Bài học từ Vĩnh Phúc cho thấy việc kiên quyết trích quỹ đất dịch vụ 10% (tương đương 36m2 cho mỗi sào Bắc Bộ bị thu hồi) và phân bổ 87 tỷ đồng từ ngân sách cho các đề án đào tạo nghề đã tạo ra bước ngoặt giúp hơn 20.000 lao động vào làm việc tại các nhà máy. Tương tự, Đà Nẵng đã ủy thác 9 tỷ đồng sang Ngân hàng Chính sách xã hội trong gói vốn 52,258 tỷ đồng để hỗ trợ 3.976 lao động chuyển đổi sang dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp. Sự chậm trễ của Long Biên trong việc chuẩn hóa quỹ đất dịch vụ và thiếu các chế tài ràng buộc doanh nghiệp đã làm gia tăng sức ép việc làm lên khu vực phi chính thức.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết căn bản bài toán sinh kế cho nông dân bị thu hồi đất tại quận Long Biên đến năm 2020, hệ thống giải pháp cần được triển khai đồng bộ:

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất gắn liền với quy hoạch lao động. Ủy ban nhân dân quận Long Biên phối hợp với Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội rà soát toàn bộ quỹ đất đô thị, kiên quyết dành tối thiểu 10% diện tích đất tại các dự án phát triển công nghiệp, thương mại để bố trí làm đất dịch vụ và mặt bằng kinh doanh cho các hộ bị thu hồi trên 30% diện tích canh tác. Thời gian hoàn thành trong giai đoạn 2013-2015.

Thứ hai, thiết lập chế tài bắt buộc về tuyển dụng đối với các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn. Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Ủy ban nhân dân quận Long Biên cần đưa tiêu chí tiếp nhận lao động địa phương thành điều kiện tiên quyết khi giao đất dự án. Mục tiêu yêu cầu mỗi doanh nghiệp tiếp nhận ít nhất 40% chỉ tiêu lao động phổ thông là người dân địa phương bị thu hồi đất, đồng thời hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề ban đầu từ năm 2014 đến 2018.

Thứ ba, đổi mới căn bản mô hình đào tạo nghề theo nguyên tắc gắn kết với nhu cầu thị trường. Trung tâm Dạy nghề quận Long Biên liên kết trực tiếp với các trường cao đẳng, trung cấp và doanh nghiệp đóng trên địa bàn để mở các lớp ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng. Tập trung đào tạo các nghề dịch vụ đô thị như lái xe, sửa chữa cơ khí, may công nghiệp, chế biến thực phẩm, dịch vụ bán hàng và quản trị khách sạn. Chỉ tiêu đào tạo đạt trên 5.000 lượt lao động mỗi năm, đảm bảo tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt trên 70% trong giai đoạn 2014-2020.

Thứ tư, mở rộng hạn mức tín dụng ưu đãi và nâng cao năng lực hệ thống sàn giao dịch việc làm. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ủy thác nguồn vốn ngân sách địa phương khoảng 30 tỷ đồng qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội quận Long Biên nhằm hỗ trợ các hộ gia đình vay vốn tạo việc làm với lãi suất ưu đãi. Định kỳ tổ chức 12 đến 24 phiên giao dịch việc làm lưu động mỗi năm tại 14 phường để cung cấp thông tin thị trường lao động minh bạch, nhanh chóng kết nối cung cầu cho người dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý Nhà nước tại các cơ quan quản lý đô thị, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các quận, huyện đang trong quá trình đô thị hóa nhanh. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn để xây dựng chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư và giải quyết việc làm đồng bộ.

Nhóm thứ hai, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Xã hội học. Công trình là tài liệu học thuật giá trị trong việc vận dụng các học thuyết kinh tế cổ điển và hiện đại vào giải quyết các xung đột an sinh xã hội thực tế tại Việt Nam.

Nhóm thứ ba, ban lãnh đạo các doanh nghiệp, chủ đầu tư dự án khu đô thị và khu công nghiệp. Tài liệu giúp doanh nghiệp thấu hiểu bối cảnh cộng đồng sở tại, từ đó xây dựng kế hoạch trách nhiệm xã hội, chiến lược tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực địa phương hài hòa, hiệu quả.

Nhóm thứ tư, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, cùng ban giám đốc các trung tâm giáo dục nghề nghiệp. Luận văn cung cấp các mô hình đào tạo thực nghiệm, phương pháp khảo sát nguyện vọng và giải pháp định hướng nghề nghiệp sát với nhu cầu của lao động lớn tuổi.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao nhóm lao động nông nghiệp trên 35 tuổi gặp khó khăn lớn nhất khi chuyển đổi nghề nghiệp? Nhóm lao động trên 35 tuổi chiếm khoảng 60% tổng số người mất việc do thu hồi đất. Họ gặp rào cản lớn về trình độ học vấn, tư duy sản xuất nông nghiệp bám rễ sâu, khó thích ứng với tác phong công nghiệp và thường bị các doanh nghiệp khu công nghiệp từ chối tiếp nhận vì ưu tiên lao động trẻ dưới 30 tuổi.

  2. Tỷ lệ giải quyết việc làm cho nông dân mất đất tại quận Long Biên đạt mức bao nhiêu so với các địa phương khác? Trong giai đoạn 2004-2010, tỷ lệ giải quyết việc làm thành công tại Long Biên đạt mức trung bình khoảng 45%. Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với tỉnh Vĩnh Phúc (đạt 75%) và thành phố Đà Nẵng (đạt 60%), nơi chính quyền địa phương triển khai rất quyết liệt các quỹ đất dịch vụ và nguồn vốn ưu đãi.

  3. Chính sách cấp đất dịch vụ đóng vai trò như thế nào trong việc bảo đảm sinh kế lâu dài? Đất dịch vụ đóng vai trò là tư liệu sản xuất thay thế, cho phép người nông dân xây dựng mặt bằng kinh doanh, kho bãi hoặc mở các dịch vụ thương mại phụ trợ. Điển hình tại Vĩnh Phúc, chính sách cấp 10% đất dịch vụ đã giúp 5.200 lao động lớn tuổi chuyển sang làm dịch vụ ổn định quanh các khu công nghiệp.

  4. Doanh nghiệp tiếp nhận đất thu hồi có nghĩa vụ pháp lý gì đối với lao động địa phương? Theo các quy định của thành phố Hà Nội, doanh nghiệp khi nhận quyền sử dụng đất phải cam kết tuyển dụng lao động địa phương theo định mức nhất định, ví dụ thu hồi 1 hecta đất phải tạo việc làm cho 10 lao động. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phối hợp thêm kinh phí đào tạo nghề để tỷ lệ tuyển dụng thực tế đạt trên 40%.

  5. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội phát huy hiệu quả ra sao? Nguồn vốn vay giải quyết việc làm giúp các hộ nông dân thiếu vốn tự có tiếp cận tài chính để mở rộng chăn nuôi trang trại ven đô, học nghề chất lượng cao hoặc đầu tư cơ sở dịch vụ buôn bán nhỏ, tương tự mô hình Đà Nẵng đã tạo việc làm mới cho 3.976 người từ nguồn vốn ủy thác.

Kết luận

  • Thu hồi đất nông nghiệp phục vụ đô thị hóa là xu thế khách quan nhưng đặt ra thách thức gay gắt về sinh kế cho 131.106 người trong độ tuổi lao động tại quận Long Biên.
  • Thực trạng giai đoạn 2004-2010 cho thấy tỷ lệ lao động được giải quyết việc làm mới chỉ đạt khoảng 45%, trong đó 60% lao động trên 35 tuổi gặp khó khăn lớn trong việc thích nghi.
  • Việc thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp là nguyên nhân chính khiến chỉ có 20% đến 30% lao động địa phương được các doanh nghiệp khu công nghiệp tuyển dụng.
  • Kinh nghiệm thực tiễn từ Vĩnh Phúc và Đà Nẵng khẳng định bài toán việc làm chỉ được giải quyết triệt để khi kết hợp quỹ đất dịch vụ 10%, nguồn vốn vay ưu đãi và đào tạo nghề theo địa chỉ.
  • Luận văn đã đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện từ thể chế, tài chính đến quy hoạch, định hướng cho các chính sách an sinh xã hội của Hà Nội trong giai đoạn đến năm 2020.

Để tham khảo chi tiết toàn bộ số liệu khảo sát và các mô hình chuyển đổi nghề nghiệp chuyên sâu, bạn đọc có thể nghiên cứu trực tiếp công trình luận văn tại hệ thống thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.