phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm Chƣơng 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho ngƣời lao động thuộc diện thu hồi đất ở huyện Điện Bàn. Chƣơng 3: Giải pháp giải quyết việc làm cho ngƣời lao động thuộc diện thu hồi đất ở huyện Điện Bàn. Tổng quan nghiên cứu Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nói chung cũng nhƣ lao động nông nghiệp nói riêng ở trong và ngoài nƣớc với nhiều cách tiếp cận khác nhau, giải pháp khác nhau nhƣng mục tiêu cuối cùng là đƣa ra những giải pháp về giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ Luan van 5 thất nghiệp. Ở đây có thể rút ra đƣợc những vấn đề trong việc giải quyết làm cho lao động nói chung và lao động nông nghiệp nói riêng trong quá trình đô thị hóa đó là: Đối với các nghiên cứu ở nƣớc ngoài nhất là các nƣớc trong khu vực nhƣ: - Ở Cộng Hòa Liên Bang Đức gắn quy hoạch phát triển đô thị với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Vấn đề quy hoạch không gian đô thị, quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch phát triển kinh tế đô thị với giải quyết việc làm cho ngƣời lao động, nhất là lao động nông nghiệp là nội dung cơ bản đƣợc xác định ngay từ khâu lập quy hoạch. Các vấn đề quy hoạch sử dụng mặt bằng, quy hoạch các khu, cụm dân cƣ và giải quyết công ăn việc làm của ngƣời lao động đƣợc gắn kết chặt chẽ với nhau. Với mục tiêu phát triển kinh tế, giải quyết việc làm ở các đô thi, nhà nƣớc đã thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp nhƣ: Hỗ trợ việc hình thành các doanh nghiệp mới, chuẩn bị mặt bằng, đầu tƣ cơ sở hạ tầng, khuyến khích đổi mới công nghệ, thực hiện các chính sách tài chính, ƣu đãi về tín dụng. - Đối với các nƣớc nhƣ Hàn Quốc, Philippin.
Thái Lan thì phát triển các ngành, nghề sản xuất phi nông nghiệp, ngành nghề tạo nhiều việc làm cho lao động nông nghiệp là chính sách ƣu tiên và là chiến lƣợc hàng đầu trong chiến lƣợc phát triển 5 năm của các nƣớc này trong quá trình đô thị hóa. Nhờ thành công trong chính sách giải quyết việc làm mà một số nƣớc đã vƣợt qua đƣợc khó khăn và đã trở thành các con rồng của Châu Á. - Đối với Băngladet trong quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế và giải quyết việc làm, Chính phủ đã xem xét trên cả 2 mặt : Cung và Cầu lao động. nhà nƣớc tích cực trợ giúp cho các chƣơng trình lao động và việc Luan van 6 làm : Tạo việc làm trong nông nghiệp, tạo việc làm trong công nghiệp, tạo việc làm thông qua phát triển các công việc công cộng đặc biệt là đầu tƣ cơ sở hạ tầng cho khu vực nông thôn, thu hút đầu tƣ trong và ngoài nƣớc vào khu vực nông thôn nhằm tạo việc làm cho lao động nông nghiệp, tạo việc làm thông qua các chƣơng trình việc làm của Chính phủ, các tổ chức Phi chính phủ trong và ngoài nƣớc.
- Ngoài ra các nƣớc trong khu vực còn tiến hành đào tạo và đào tạo lại đối với lao động có tay nghề thấp cho đội ngũ lao động để đáp ứng theo sự phát triển của các ngành kinh tế. Giảm tỷ lệ phát triển dân số đặc biệt là dân số ở nông thôn đƣợc coi là là một giải pháp quan trọng trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài. Thực hiện chính sách xuất khẩu lao động là chiến lƣợc lâu dài nhằm giải quyết việc làm, giảm áp lực đối với xã hội, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc. Sự hổ trợ của nhà nƣớc cũng là một trong những giải pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho ngƣời dân thông qua việc phát triển các ngành nghề, thông qua việc đầu tƣ trực tiếp hoặc gián tiếp, xây dựng kết cấu hạ tầng, đào tạo, đào tạo lại, thực thi chính sách dân số, trợ cấp thất nghiệp, bảo hộ sản xuất trong nƣớc … Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Việc làm luôn là vấn đề đáng quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, một tiêu chí đánh giá tình hình kinh tế xã hội của một quốc gia.
Việc làm vừa phản ánh hoạt động kinh tế diễn ra nhƣ thế nào vì nó đƣợc coi là kết quả từ quá trình phát triển sản xuất. Việc làm là trạng thái đặc biệt chỉ đƣợc thiết lập khi các yếu tố sản xuất đƣợc kết hợp với nhau trong những điều kiện nhất định. Phần dƣới chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.
Những vấn đề chung về việc làm Việc làm là một khái niệm đƣợc xem xét trên nhiều quan điểm khác nhau tùy theo cách tiếp cận. Phần này sẽ xem xét cụ thể và khái quát một định nghĩa riêng cho nghiên cứu. Khái niệm Khái niệm việc làm là tiền đề cơ bản giúp chúng ta nhận dạng một cách chính xác và thống nhất về mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong nền kinh tế thị trƣờng. Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm đƣợc hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tƣ liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tƣợng lao động theo mục đích con ngƣời.
Cách tiếp cận này theo quan điểm trọng cung khi các yếu tố sản xuất nhƣ vốn, công nghệ và lao động đƣợc kết hợp với nhau theo các tỷ lệ nhất định theo trình độ công nghệ do đó quyết định Luan van 8 số việc làm cho lao động. Ngƣợc lại, quan điểm của Keynes đại diện cho trƣờng phái trọng cầu lại cho rằng sản lƣợng của nền kinh tế và việc làm lại chịu quyết định của tổng cầu, khi tổng cầu thay đổi sản lƣợng biến động kéo theo việc làm biến động. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việc làm là những hoạt động lao động đƣợc trả công bằng tiền và bằng hiện vật. Điều 13, chƣơng 2 (việc làm) Bộ luật lao động của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm".
Khái niệm này đƣợc vận dụng trong các cuộc điều tra về thực trạng lao động và việc làm hàng năm của Việt Nam và đƣợc cụ thể hóa thành ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng dƣới dạng bằng tiền hoặc bằng hiện vật. - Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chính thành viên đƣợc quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần. - Làm công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó.
Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng; hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý. Luan van 9 Theo các khái niệm trên, hoạt động đƣợc coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: + Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động và cho các thành viên trong gia đình. + Hai là, hoạt động đó phải đúng luật; không bị pháp luật cấm. Hai tiêu thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, và là điều kiện cần và đủ của một hoạt động đƣợc thừa nhận là việc làm.
Nếu một hoạt động chỉ tạo ra thu nhập nhƣng vi phạm luật pháp thì không thể đƣợc công nhận là việc làm. Mặt khác, một hoạt động dù là hợp pháp, có ích nhƣng không tạo ra thu nhập cũng không đƣợc thừa nhận là việc làm - chẳng hạn nhƣ công việc nội trợ hàng ngày của phụ nữ cho chính gia đình mình nhƣng giúp việc cho gia đình khác đƣợc trả công thì đƣợc công nhận là việc làm Tuy nhiên tùy theo phong tục, tập quán và pháp luật của các quốc gia, của mỗi dân tộc mà ngƣời ta có một số quy định khác nhau về việc làm: Ví dụ: ở Thái Lan Philippin mại dâm của phụ nữ đƣợc coi là việc làm, vì đƣợc pháp luật bảo hộ và quản lý; nhƣng ở Việt Nam hoạt động đó đƣợc coi là hoạt động phi pháp, vi phạm pháp luật và đạo đức. Trong nền kinh tế thị trƣờng, ở đâu có lợi nhuận, các doanh nghiệp sẽ tăng cƣờng sử dụng lao động, tăng sản lƣợng, khối lƣợng việc làm sẽ tăng lên. Mặt khác, khi nhu cầu thị trƣờng suy giảm, các doanh nghiệp sẽ phải cắt giảm sản lƣợng, khối lƣợng việc làm sẽ giảm.
Mặt khác, năng suất lao động tăng đã làm ảnh hƣởng rất lớn tới "cầu" và "cơ cấu" lao động. Nếu ngƣời lao động không tự nâng cao tay Luan van 10 nghề, nâng cao trình độ của mình theo kịp với yêu cầu của sản xuất kinh doanh; nếu phân công lao động xã hội không phù hợp, không tạo ra đƣợc nhiều chỗ làm mới cho ngƣời lao động thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm là điều khó tránh khỏi. Trong nông nghiệp, lao động mang tính thời vụ, do vậy vào thời kỳ căng thẳng, khối lƣợng công việc nhiều, tăng đột biến. Tuy nhiên, lúc nhàn rỗi, khối lƣợng công việc giảm đột ngột, thậm chí có lúc ngƣời nông dân không có việc làm.
Đặc biệt trong điều kiện hiện nay dân số ở khu vực nông thôn vẫn tăng nhanh trong lúc đất canh tác không tăng thậm chí có xu hƣớng giảm xuống do đô thị hóa, khả năng ứng dụng máy móc, tiến bộ khoa học công nghệ,.đã giải phóng một lƣợng lao động lớn ra khỏi ngành nông nghiệp. Nếu không tạo ra việc làm cho ngƣời nông dân, đặc biệt trong lúc nông nhàn, sẽ dẫn đến hiện tƣợng nông dân thất nghiệp và di chuyển ra các thành phố và các khu công nghiệp để tìm kiếm việc làm gây nhiều vấn đề phức tạp cho việc quản lý xã hội. Tóm lại, việc làm là trạng thái trong đó các điều kiện đƣợc đảm bảo để lao động có thể kết hợp với các yếu tố sản xuất khác để tạo ra sản phẩm, việc làm do các doanh nghiệp và tổ chức tạo ra theo tìn hiệu cầu hàng hóa của thị trƣờng. Việc làm phụ thuộc vào cả phía cầu và phía cung của nền kinh tế.
Việc làm và phân loại việc làm ở Việt Nam Để phân loại việc làm cần phải dựa vào vào thực trạng của yếu tố lao động tác động toàn diện vào nền kinh tế quốc dân.