CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LAO ĐÔNG VIỆC LÀM 1. Nguồn lao động và lực lượng lao động [20.167] Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động - việc làm trong xã hội. Nguồn lao động Là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân.
Ở nước ta, theo qui định của Bộ luật Lao động, độ tuổi lao động đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Nguồn lao động luôn được xem xét trên 2 mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng. Theo khái niệm trên, nguồn lao động về mặt số lượng bao gồm : + Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm + Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi qui định). Nguồn lao động xét về mặt chất lượng, cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khỏe (thể lực) của người lao động.
Lực lượng lao động Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động. Theo qui định thực tế đang có việc làm và thất nghiệp. Ở nước ta hiện nay thường sử dụng khái niệm sau: lực lượng lao động là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Luan van 10 Lực lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế (tích cực) và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội.
Việc làm và thất nghiệp [20. Khái niệm việc làm Khái niệm việc làm là tiền đề cơ bản giúp chúng ta nhận dạng một cách chính xác và thống nhất về mối quan hệ giữa lao động và việc làm trong nền kinh tế thị trường. Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người. Theo quy định của Bộ luật Lao động ở nước ta, khái niệm việc làm được xác định là “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
Từ quan niệm trên cho thấy, khái niệm việc làm bao gồm các nội dung sau : + Là hoạt động lao động của con người. + Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập. + Hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Người có việc làm, Theo các nhà thống kê về lao động của tổ chức ILO, người có việc làm là người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận bằng tiền hay bằng hiện vật hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình.
Theo Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì khái niệm người có việc làm được hiểu là người từ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước khi điều tra người đó đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuận bằng tiền hoặc hiện vật. Luan van 11 Người thiếu việc làm, Theo ILO, người thiếu việc làm là người trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dưới mức qui định cho người có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm. Theo Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì người thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của Nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ và sẵn sàng làm việc nhưng không có việc để làm, (trừ những người có số giờ làm việc dưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng không tìm được việc làm). Người đủ việc làm, gồm những người có số giờ làm việc trong tuần lễ tính đến điều tra lớn hơn, hoặc bằng 40 giờ, hoặc những người có số giờ nhỏ hơn 40 giờ, nhưng không có nhu cầu làm thêm, hoặc số người có số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ, nhưng bằng hoặc lớn hơn giờ qui định đối với những người làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo qui định hiện hành.
Thất nghiệp Theo khái niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp (theo nghĩa chung nhất) là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định. Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có việc làm và đang có nhu cầu tìm việc làm. Theo quan niệm nêu trên, tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế được đánh giá bằng chỉ tiêu “tỷ lệ thất nghiệp”. Nó được qui định bằng tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp và lực lượng lao động trong độ tuổi lao động.
Ở nước ta hiện nay có các loại thất nghiệp sau: Luan van 12 + Thất nghiệp hữu hình: là tình trạng thất nghiệp chủ yếu ở khu vực thành thị. Người thất nghiệp là thành niên chiếm tỷ lệ cao. + Thất nghiệp trá hình: hay còn gọi là thiếu việc làm là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế nông nghiệp, chậm phát triển. Trong khu vực thành thị, dạng thất nghiệp này tồn tại dưới dạng khác nhau như: làm việc với năng suất thấp, không góp phần tạo ra thu nhập cho xã hội mà chủ yếu chỉ tạo thu nhập đủ sống (nhiều khi dưới mức sống tối thiểu).
Dạng thất nghiệp này còn gọi là thất nghiệp vô hình. Trong khu vực thành thị, thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại dưới dạng thiếu việc làm. Nguyên nhân là do giới hạn của đất đai nông nghiệp, do khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn chậm phát triển. Mức độ thiếu việc làm ở nông thôn càng trầm trọng hơn khi chúng ta xem xét tới tính thời vụ của việc làm.
Ngoài hai dạng thất nghiệp phổ biến nêu trên, còn tồn tại một số hình thức thất nghiệp khác như: thất nghiệp tự nguyện (ẩn nấu bên trong những người làm công việc nội trợ gia đình do mức tiền lương thấp không đủ bù đắp) và thất nghiệp tạm thời hay thất nghiệp cơ cấu là thất nghiệp trong thời gian thay đổi nghề nghiệp, thay đổi nơi làm việc vì muốn tìm việc làm mới tốt hơn. GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. Khái niệm giải quyết việc làm [16.31] Việc làm là một dạng hoạt động kinh tế - xã hội. Hoạt động đó không đơn thuần là sự kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất, mà nó còn bao gồm cả những yếu tố xã hội.
Muốn sự kết hợp đó diễn ra và không ngừng phát triển phải tạo ra được sự phù hợp cả về số lượng, chất lượng sức lao động với tư liệu sản xuất, trong một môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra. Luan van 13 Giải quyết việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Giải quyết việc làm cần phải được xem xét cả từ ba phía: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Như vậy, Theo nghĩa rộng: Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động có việc làm.
Theo nghĩa hẹp: Giải quyết việc làm là các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra việc làm cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất. Sự cần thiết giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất Giải quyết việc làm cho lao động nói chung và lao động bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp nói riêng là công việc có ý nghĩa chiến lược đối với bất kỳ quốc gia hay một địa phương nào, bởi tình trạng lao động thất nghiệp, thiếu việc làm là nguồn gốc sâu xa của sự nghèo đói, gây nên tình trạng bất ổn định về an ninh, trật tự xã hội, đồng thời là tác nhân cho sự phát triển tệ nạn xã hội trong nền kinh tế thị trường. Giải quyết việc làm cho những nông dân bị thu hồi đất hiện nay rất quan trọng vì đây là một lực lượng lao động chiếm một tỉ trọng lớn trong xã hội. Hơn nữa đa phần số lao động này là ở nông thôn, trình độ về văn hóa và nhận thức của họ có phần hạn chế, họ lại dễ bị những kẻ xấu, những phần tử phản động dụ dỗ, lôi kéo, xúi giục nên một khi lực lượng này bị thất nghiệp thì sẽ gây ra những hậu quả không lường trước được.
Trong số những đối tượng bị thu hồi đất thì nhóm người trên 35 tuổi bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi những người trong độ tuổi này rất khó để tìm được một việc làm thay thế, hạn Luan van 14 chế khả năng tiếp thu, học một nghề mới cũng như khả năng thích nghi với môi trường lao động mới. Vì vậy mà việc tìm cho họ một việc làm ổn định là vô cùng cần thiết. Nếu như không giải quyết được việc làm cho những người này thì chính những chính sách phát triển kinh tế của Trung ương và địa phương lại đẩy họ vào cuộc sống khó khăn thiếu thốn hơn khi đất không có, việc làm cũng không. Chủ trương đến năm 2020 nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại.
Từ nay đến đó chỉ một khoảng thời gian rất ngắn, lao động trong nông nghiệp phải tụt xuống chỉ còn khoảng 23% (công nghiệp là 47%, và dịch vụ là 30%),cơ cấu kinh tế chỉ còn 10% là thuộc về nông nghiệp (trong khi CN là 52% và dịch vụ là 38%).