Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM. Trên thế giới.
Tại Việt Nam. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN. Tình huống có vấn đề. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Cơ sở Triết học. Cơ sở Tâm lý học. Cơ sở Giáo dục học.
BẢN CHẤT CỦA DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. TỔ CHỨC DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Cách thức tạo ra tình huống có vấn đề. Các mức độ của dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
Quy trình tổ chức dạy học nêu và giải quyết vấn đề. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ HỌC SINH KHỐI TRUNG CẤP NGHỀ (HỆ 3 NĂM) CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ BẠC LIÊU. 36 KẾT LUẬN CHƯƠNG. 39 Luan van Ch ơng 1 CƠ S LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC NÊU VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM Hiện nay, dạy học nêu và giải quyết vấn đề đã tr thành một trong các phương pháp dạy học ích thích tính tích cực, chủ động và phát triển hả năng tư duy sáng tạo của người học. Do vậy, phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề đã được rất nhiều nhà hoa học trên thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên c u. T n thế giới Từ thời cổ đại, việc phát huy tính tích cực của người học đã được các nhà giáo dục quan tâm, điển hình là Xocrat được coi là người đ t nền móng cho thuật hùng biện dựa trên hệ thống nh ng câu hỏi đối thoại, ông có một câu nói nổi tiếng: “Hãy nhận th c chính mình”. Thuật ng “dạy học nêu vấn đề” xuất phát từ thuật ng “Orixtic” hay c n gọi là phương pháp phát iến, tìm t i.
Phương pháp này c n có tên gọi là “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”. Ở thế kỉ XVII, Jan mos Kômenxki (tên La Tinh là Comenius) (1592 – 1670), người x Moravia, nay là Cộng H a Séc đã viết: “Con người sinh ra mà hông được học, hông được sự giáo dục của nhà trường và xã hội thì lớn lên chẳng hác nào nh ng cây mọc hoang dại, sẽ hông có hả năng hành động theo đúng mục tiêu của lẽ sống, sẽ hông nhìn rõ cái thiện và d sa vào cái ác, cái tội l i… Cho dù con người là một sinh vật hôn ngoan nhất trong thế giới tạo vật, nhưng nếu hông được học hành sẽ hông có ánh sáng trí tuệ soi đường – cái mà tạo hóa đã ban cho con người và giáo dục có mục đích đánh th c năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách…, hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” [16]. ng đã vận dụng các inh nghiệm và triết 6 Luan van lý của mình để đề ra một cuộc cải cách giáo dục triệt để dựa trên bản chất của con người và sự vật. Jan mos Kômens i trong tác ph m “Sư phạm toàn diện” đã nêu ra “Tính tự giác, tính tích cực là một trong nh ng nguyên tắc dạy học” [16].
Ở đây, ông đã nhận thấy được, muốn thế hệ trẻ ngày càng nâng cao nhận th c của mình, một trong nh ng nguyên tắc dạy học là phải hơi gợi được sự tích cực, tự giác của học sinh. Người thầy chỉ đóng vai tr chỉ đạo, hướng dẫn c n học sinh đóng vai tr trung tâm tích cực chủ động sáng tạo để l nh hội tri th c. Đến thế ỷ 18, nhà giáo dục người Pháp Jean – Jacques Rousseaus (1712 - 1778) cho rằng, phải hướng học sinh tích cực tự dành lấy kiến th c bằng cách tìm hiểu, hám phá và sáng tạo. Johann Heinrich Pestalozzis (1746 - 1827) đưa ra nguyên lý giáo dục cơ bản đó chính là sự thống nhất của khối óc, trái tim và bàn tay.
Ta-lây-răng (1791) rất chú trọng trong việc phát huy óc sáng tạo và tính độc lập suy ngh của học sinh. ng viết: “Cần phải hấp dẫn sự t m và sự ganh đua sôi nổi của trẻ em bằng cách làm như thế nào để cho chúng được dựa vào, sáng tạo ra nh ng tri th c hác nhau mà người ta luôn trao đổi cho chúng và bằng cách giúp cho chúng cũng được chia sẻ cái vinh dự của người phát minh về m i tri th c. Vì cái gì thuộc về phạm vi của lí trí chung nên chỉ hiến cho í c, phải để cho lí trí của m i cá nhân nắm lấy. Người ta đã ch ng minh hàng nghìn lần rằng, chỉ hi nào người ta tự tìm t i, tự phát minh điều gì thì người ta mới thực sự là biết, thực sự nhìn rõ điều đó.
Nếu hông, ý iến có thể đến với ta mà hông phải là của ta. Đó là cây s lạ hông bao giờ có thể bắt rể được” [4 – trang 61, 62]. Cuối nh ng năm của thế kỷ XIX, các nhà nghiên c u đã đề cập đến phương án dạy học tìm t i, phát hiện nhằm phát huy năng lực nhận th c, sáng tạo của học sinh, để học sinh có hả tự giải quyết vấn đề, bằng cách đưa học sinh vào hoạt động tìm iếm ra tri th c, học sinh là chủ thể của hoạt động học, là người sáng tạo ra hoạt động học. Đây là một trong nh ng cơ s lí luận của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề.
7 Luan van Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhờ sự thành công của phong trào nhà trường mới tích cực Châu Âu, vấn đề dạy học tích cực đã được nhiều nhà giáo dục và tâm lí nghiên c u vận dụng. Nh ng năm 50 của thế kỉ XX, nền kinh tế, văn hóa phát triển rất mạnh Châu Âu. Thời điểm này xuất hiện một mâu thuẫn lớn trong giáo dục, đó là mâu thuẫn gi a yêu cầu chất lượng giáo dục ngày càng cao, hả năng sáng tạo của học sinh ngày càng tăng, nhưng tổ ch c quá trình dạy học c n lạc hậu. Do đó, đ i hỏi các nhà giáo dục phải tìm ra phương pháp dạy học mới, để phát huy hả năng sáng tạo của học sinh đồng thời nâng cao chất lượng giảng dạy, đáp ng yêu cầu phát triển của khoa học thuật.
Phương pháp dạy học qua vấn đề (PBL-Problem Based Learning) lần đầu tiên được áp dụng tại đại học y khoa (Case Western University – Hoa Kỳ) và sau đó là học viện y học (đại học McMasters, Hamilton, Canada) [19 – trang 8]. Dạy học nêu và giải quyết vấn đề được nghiên c u tại Liên Xô (cũ).Rubinstein (1960) nhấn mạnh rằng: “Tư duy sáng tạo luôn luôn bắt đầu bằng một tình huống gợi vấn đề”. Nói cách hác là đâu hông có vấn đề đó hông có tư duy. Tình huống có vấn đề luôn luôn ch a đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một vướn mắc cần tháo gỡ… Do vậy, kết quả của việc nghiên c u và giải quyết tình huống có vấn đề sẽ là tri th c mới, nhận th c mới ho c phương th c hành động mới với chủ thể [17 – trang 94].
Trong nh ng năm 70 của thế kỷ XX, dạy học nêu và giải quyết vấn đề cũng được nghiên c u các nước như Liên Xô và các nước Đông Âu. Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề đ c biệt được chú trọng Ba Lan. Nhà giáo dục học Ba Lan V.Okon cho rằng: “Dạy học nêu và giải quyết vấn đề là hoạt động dạy học dựa trên sự điều khiển quá trình học độc lập giải quyết các bài toán thực hành hay lý thuyết” [8 – trang 9]. ng đã làm sáng tỏ phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề thật sự là phương pháp dạy học tích cực.
Tuy nhiên, nh ng nghiên c u này chỉ dừng việc ghi lại nh ng thực hiện nghiệm thu được từ việc s dụng phương pháp này ch chưa đưa ra đầy đủ cơ s lí luận cho nó.Maxmutov cho rằng “Tạo ra một chu i tình huống có vấn đề và điều kiện hoạt động của người học nhằm độc lập giải quyết các vấn đề học tập, đó thực chất là quá trình dạy học nêu và giải quyết vấn đề” [8 – trang 49].Mackmutov đề cập đến tình huống có vấn đề mà M.Machius i (1972) coi tình huống có vấn đề là một dạng đ c biệt của sự tác động qua lại của chủ thể và hách thể, được đ c trưng b i một trạng thái tâm lí xuất hiện chủ thể trong khi giải quyết một bài toán, mà việc giải quyết vấn đề đó lại cần đến tri th c mới, cách th c hành động mới chưa hề biết trước đó. ng đưa ra ba yếu tố cấu thành nên tình huống có vấn đề [4 – trang 104, 105]: - Nhu cầu nhận th c ho c hành động của người học. - Sự tìm iếm nh ng tri th c và phương th c hành động chưa biết. - Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện kinh nghiệm và năng lực.Machiuski, Pietzsch – 1987 cho rằng dạy học giải quyết vấn đề có ba đ c trưng cơ bản [42 – trang 42]: - Học sinh được đ t vào tình huống gợi vấn đề.
- Học sinh hoạt động tích cực, tự lực, huy động tri th c và hả năng của mình để giải quyết vấn đề. - Trong và bằng cách tổ ch c giải bài toán nhận th c mà học sinh l nh hội một cách tự giác và tích cực cả kiến th c mà c n cả cách th c giải và do đó có được niềm vui của sự nhận th c sáng tạo. Thời điểm này, các nghiên c u đã phân tích được các hía cạnh của dạy học nêu và giải quyết vấn đề, đã nêu lên vai tr , bản chất, ý ngh a, các đ c trưng cơ bản, cách th c tạo ra tình huống có vấn đề, các bước giải quyết vấn đề và các yêu cầu đối với GV và HS để cùng hợp tác trong phương pháp dạy học mới đạt hiệu quả. GV bằng cách truyền đạt, dẫn dắt vấn đề của mình tạo cho HS có sự ích thích, h ng thú trong tư duy, sáng tạo trong cách giải quyết nh ng tình huống mà GV đ t ra.