Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam. Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Bình. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Quảng Bình. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM 1.
Lý luận về giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất 1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp quyền sử dụng đất 1. Khái niệm tranh chấp quyền sử dụng đất Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật không phải lúc nào cũng có chung quan điểm hay có sự đồng thuận về cách tiếp cận trong xử lý các vấn đề nảy sinh. Do đó, những bất đồng, xung đột hay những mâu thuẫn nổ ra là điều khó tránh khỏi.
Hiện tượng này được giới chuyên môn gọi là sự tranh chấp pháp lý. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: "Tranh chấp: bất đồng, trái ngược nhau" [42, tr. Như vậy, theo ngôn ngữ học, tranh chấp được hiểu là những bất đồng, trái ngược nhau giữa hai hoặc nhiều người (hoặc nhiều bên) trong quan hệ xã hội. Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học: "Tranh chấp đất đai: tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai" [36, tr.
Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: "Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai" [37, tr. Theo Luật Đất đai năm 2013: "Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai" [19, Điều 3]. Như vậy, cho dù có những cách định nghĩa về tranh chấp đất đai song giới luật học nước ta đều thống nhất với nhau ở điểm chung đó là, tranh chấp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ đất đai. Trên cơ sở các định nghĩa về tranh chấp đất đai trên đây, tác giả cho rằng nội hàm của khái niệm tranh chấp đất đai bao gồm: i) Về chủ thể.
Tranh chấp đất đai phát sinh từ những bất đồng, khác biệt giữa hai hay nhiều bên (còn gọi là các bên) trong quan hệ đất đai; ii) Về đối tượng của tranh chấp. Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đất đai. Đặc điểm của tranh chấp quyền sử dụng đất Tìm hiểu tranh chấp về QSDĐ, tác giả nhận thấy bên cạnh đặc điểm chung của tranh chấp, loại tranh chấp này có một số đặc điểm chủ yếu sau đây: Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai là chủ thể quản lý đất đai hoặc chủ thể sử dụng đất chứ không phải là chủ sở hữu đất đai. Do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.
Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thông qua một trong các phương thức là giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ; đồng thời, Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật. Vì vậy, ở nước ta, toàn dân là chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai nên không thể có tranh chấp về sở hữu đất đai. Thứ hai, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thông qua một trong các phương thức là giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ; đồng thời, Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích vật chất thu được từ việc sử dụng đất. Thứ ba, tranh chấp đất đai không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước. Vì khi xảy ra tranh chấp, một bên hoặc các bên không thực hiện được những QSDĐ của mình. Điều này ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với Nhà nước v.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm và đặc điểm giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất 1. Khái niệm giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất Tranh chấp QSDĐ là một hiện tượng phổ biến xảy ra trong đời sống xã hội ở bất kỳ một hình thái kinh tế - xã hội nào. Việc giải quyết tranh chấp QSDĐ luôn là vấn đề phức tạp và khó khăn; do tranh chấp QSDĐ liên quan đến lợi ích thiết thân của các bên đương sự.
Thuật ngữ giải quyết tranh chấp QSDĐ được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật nhưng dường như trong các đạo Luật đất đai lại chưa có sự giải thích chính thức về thuật ngữ này mà chỉ có các quy định về vấn đề này. Vậy giải quyết tranh chấp QSDĐ là gì? Theo từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học (Phần Luật Đất đai, Luật Lao động, Tư pháp quốc tế) của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1999: "Giải quyết tranh chấp đất đai: Giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm; đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai". Dựa trên cách giải thích trên đây và qua việc nghiên cứu nội dung các quy định về giải quyết tranh chấp QSDĐ; theo tác giả, giải quyết tranh chấp đất đai được hiểu là một phương thức của con người (bao gồm các bên tranh chấp, cộng đồng dân cư và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nhằm tìm ra một giải pháp thích hợp dựa trên chính sách, pháp luật đất đai mà các bên tranh chấp có thể chấp nhận được để hóa giải bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ trong quan hệ quản lý đất đai hoặc quan hệ sử dụng đất. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất Bên cạnh các đặc điểm chung của giải quyết tranh chấp, giải quyết tranh chấp QSDĐ còn có một số đặc điểm chủ yếu sau đây: Một là, giải quyết tranh chấp QSDĐ là hoạt động có mục đích rõ ràng.
Mục đích của giải quyết tranh chấp QSDĐ là hòa giải bất đồng, mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, về quyền và nghĩa vụ giữa hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai là, giải quyết tranh chấp QSDĐ dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Điều này có nghĩa là các tranh chấp về quyền sở hữu đất đai không được xem xét, thụ lý giải quyết vì nó vi phạm chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [19, Khoản 5 Điều 26].
Ba là, nguyên tắc hòa giải được coi trọng, đề cao và là phương thức được ưu tiên áp dụng khi giải quyết tranh chấp QSDĐ. Do tính ưu việt, linh hoạt của hòa giải (đỡ tốn kém về thời gian, công sức, tiền của trong việc "theo đuổi" kiện cáo trong tranh chấp QSDĐ; đảm bảo duy trì sự đoàn kết ổn định trong nội bộ nhân dân; tôn trọng và đề cao tính tự định đoạt giữa các bên đương sự và phù hợp với tâm lý, suy nghĩ, đạo lý truyền thống của người Việt Nam v.) tranh chấp QSDĐ nên phương thức này được các bên đương sự ưu tiên lựa chọn để hóa giải các bất đồng, mâu thuẫn trong lĩnh vực đất đai. Chỉ sau khi áp dụng phương thức này không đạt hiệu quả thì việc giải quyết tranh chấp QSDĐ mới được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Nguyên tắc này được quy định thành một điều trong Luật đất đai năm 2013 (Điều 202.
Hòa giải tranh chấp đất đai). Theo Điều 202: i) Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở; ii) Tranh chấp đất đai mà các bên không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải; iii) Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình. Bốn là, giải quyết tranh chấp QSDĐ dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước ở từng thời kỳ và nguồn gốc lịch sử, quá trình sử dụng đất cụ thể của từng mảnh đất. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm là, giải quyết tranh chấp QSDĐ tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định; cụ thể: i) Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở; ii) Tranh chấp đất đai mà các bên không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp đề hòa giải; iii) Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; iv) Tranh chấp QSDĐ mà UBND cấp xã hòa giải không thành thì được giải quyết như sau: * Tranh chấp QSDĐ mà đương sự có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất do TAND giải quyết.