CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 1. Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Để hiểu rõ khái niệm về TCLĐ cá nhân thì trước hết cần phải biết thế nào là tranh chấp lao động? Về mặt thuật ngữ, tranh chấp nói chung được hiểu là “đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là về quyền lợi của hai bên” [19]. TCLĐ là một từ ghép, tranh chấp ở đây chính là sự tranh giành, là loại tranh chấp về các vấn đề liên quan đến quá trình lao động giữa các bên.
Không chỉ vậy, TCLĐ còn bao gồm các xung đột liên quan đến quyền và lợi ích của NLĐ và NSDLĐ như việc làm, học nghề, quan hệ đại diện lao động,. Vì thế, hiểu theo nghĩa thuật ngữ, tranh chấp lao động cá nhân được hiểu là sự đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng trong quan hệ lao động giữa tập thể lao động và NSDLĐ. Hiện nay tuy vấn đề tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động đều được đặt ra trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, nhưng tuỳ theo đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia mà khái niệm tranh chấp lao động được hiểu khác nhau. Định nghĩa chính thức đầu tiên về tranh chấp lao động được quy định trong Luật tranh chấp lao động năm 1906 của Anh và được ghi nhận trong Luật Toà án lao động năm 1919.
Mục 8 của đạo luật này quy định: “Tranh chấp lao động có nghĩa là bất kỳ tranh chấp nào giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc giữa người lao động với người lao động liên quan đến việc tuyển dụng lao động hay không tuyển dụng lao động hay các điều khoản thoả thuận về thuê mướn lao động hoặc liên quan đến các điều kiện lao động của bất kỳ 6 người nào” [11, tr. Định nghĩa trên đã được tiếp thu và đưa vào pháp luật của nhiều nước trên thế giới, nhất là những nước từng là thuộc địa của Anh. Theo quy định tại Mục 1 Luật quan hệ lao động và tranh chấp lao động năm 1975 của Jamaica, khái niệm tranh chấp lao động được hiểu là “tranh chấp giữa một hoặc nhiều người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện của người sử dụng lao động với một hoặc nhiều người lao động hoặc tổ chức đại diện của người lao động và tranh chấp đó hoàn toàn liên quan hay liên quan phần lớn đến: các điều khoản và điều kiện về thuê mướn lao động hoặc các điều kiện vật lý mà bất kỳ người lao động nào cũng cần phải có để làm việc hoặc việc tuyển dụng hoặc không tuyển dụng hoặc chấm dứt hoặc tạm hoãn thực hiện quan hệ lao động của một hoặc nhiều người lao động hoặc việc phân chia công việc hay nhiệm vụ theo thoả thuận thuê mướn lao động giữa người lao động với nhau hoặc các nhóm người lao động với nhau hoặc bất kỳ vấn đề nào liên quan đến quyền thương lượng với tư cách là đại diện của người lao động” [11, tr. Hoa Kỳ cũng là nước sớm đưa ra định nghĩa về tranh chấp lao động.
Theo Luật quan hệ lao động quốc gia năm 1935 và được giữ nguyên từ đó cho đến nay dù đạo luật này đã qua nhiều lần sửa đổi.9 Luật quan hệ lao động quốc gia của Hoa Kỳ, thuật ngữ tranh chấp lao động được hiểu là: “bất kỳ tranh cãi nào về các điều khoản, thời hạn hay điều kiện về thuê mướn lao động, hay liên quan đến vấn đề tổ chức hoặc đại diện trong thương lượng, quyết định, duy trì, thay đổi hay nỗ lực dàn xếp các điều khoản hay điều kiện về thuê mướn lao động, bất kể là các bên tranh chấp có phải là các bên trong một quan hệ lao động hay không” [11, tr. TCLĐ là sản phẩm tất yếu của quan hệ lao động. QHLĐ là quan hệ xã hội được thiết lập thông qua hình thức hợp đồng lao động theo nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng, trực tiếp giữa NLĐ và NSDLĐ. Trong quá trình 7 ký kết, sử dụng sức lao động và trả lương giữa một bên là NLĐ với một bên là NSDLĐ thì sử dụng sức lao động là vấn đề quan trọng nhất.
Khi tham gia QHLĐ, các bên đều có mục đích của mình từ việc thuê và cho thuê. Mục tiêu của NLĐ là làm thế nào để có tiền công cao nhất có thể, còn mục tiêu của NSDLĐ là làm thế nào để khai thác được càng nhiều giá trị sử dụng của sức lao động và giảm chi phí cho việc sử dụng lao động. Điều đó nói lên rằng: mâu thuẫn về lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ trong QHLĐ là hiện tượng tất nhiên và phổ biến. Từ những mâu thuẫn vốn có, diễn biến quá trình thực hiện quan hệ lao động theo xu hướng nêu trên, tất yếu xảy ra xung đột giữa NLĐ và NSDLĐ.
Từ sự phân tích ở trên, khái niệm TCLĐ có thể khái quát như sau: “TCLĐ là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động. TCLĐ bao gồm TCLĐ cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ và TCLĐ tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ” [14]. Giải quyết TCLĐ cá nhân là các quy định pháp luật về nguyên tắc, thẩm quyền giải quyết, trình tự giải quyết TCLĐ. Giải quyết TCLĐ cá nhân là việc các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những thủ tục theo quy định của pháp luật nhằm giải quyết những tranh chấp phát sinh giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ về việc thực hiện quyền nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong QHLĐ, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của một trong các bên đã bị xâm hại; xóa bỏ tình trạng bất bình, mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ, duy trì và củng cố QHLĐ, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất.
Để giải quyết TCLĐ cá nhân, chủ thể tham gia giải quyết TCLĐ cá nhân bắt buộc phải thực hiện các công việc theo trình tự đã được quy định. TCLĐ cá nhân cũng là một loại quan hệ dân sự được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự, do đó, thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân cũng bao gồm những thủ tục như giải quyết tranh chấp về dân sự thông thường. 8 Như vậy, giải quyết TCLĐ cá nhân là việc các chủ thể tham gia giải quyết TCLĐ tiến hành những công việc theo một trình tự luật định nhằm xác định quyền, nghĩa vụ của các bên tranh chấp để duy trì mối QHLĐ hài hòa theo thỏa thuận hoặc theo pháp luật quy định. Đặc điểm giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Thông thường TCLĐ được được phân thành TCLĐ cá nhân giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ và TCLĐ tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ.
TCLĐ cá nhân với bản chất là một TCLĐ phản ánh những xung đột, mâu thuẫn của các bên trong QHLĐ về quyền, nghĩa vụ và lợi ích, đồng thời nó còn phản ánh những xung đột về giá trị tinh thần của đời sống xã hội. Xét về mặt pháp lý, TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể đều có những đặc điểm chung nhất của TCLĐ. Tuy nhiên, TCLĐ cá nhân cũng có đặc điểm riêng để phân biệt với TCLĐ tập thể: Thứ nhất, về mặt chủ thể, TCLĐ cá nhân trước hết là tranh chấp giữa một bên là NLĐ và một bên là NSDLĐ trên cơ sở HĐLĐ. Như vậy, trong tranh chấp này, về số lượng chỉ có duy nhất một NLĐ với một NSDLĐ, hoặc cũng có thể là một nhóm NLĐ với một NSDLĐ nhưng những NLĐ này không có sự liên kết nào về quyền và lợi ích, mỗi cá nhân NLĐ đều có một yêu cầu riêng đối với NSDLĐ.
Chính vì chủ thể của TCLĐ cá nhân là cá nhân hoặc một nhóm NLĐ với NSDLĐ cho nên TCLĐ cá nhân không mang tính tổ chức, không có quy mô, tính phức tạp và thống nhất ý chí như TCLĐ tập thể. Đây là một trong những dấu hiệu cơ bản để phân biệt TCLĐ cá nhân với TCLĐ tập thể. Trong một số trường hợp TCLĐ cá nhân có thể chuyển hóa thành TCLĐ tập thể khi mâu thuẫn giữa các bên trở nên căng thẳng, hiệu ứng lan truyền có thể xảy ra phản ứng mang tính tập thể, hoặc khi quyền và lợi ích của một cá nhân cũng là quyền và lợi ích của một tập thể. Sự chuyển hóa từ 9 TCLĐ cá nhân thành TCLĐ tập thể phản ánh một khía cạnh lý luận về QHLĐ và TCLĐ, đó là QHLĐ và TCLĐ trước hết là quan hệ phát sinh giữa NLĐ với NSDLĐ.
Về ý nghĩa thực tiễn, vấn đề này tác động trực tiếp vào việc quản lý và sử dụng lao động đòi hỏi hệ thống cơ quan, tổ chức giải quyết TCLĐ phải được tổ chức một cách hợp lý. Thứ hai, về mặt nội dung, TCLĐ cá nhân là những tranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cá nhân, một trong số trường hợp là một nhóm NLĐ hoặc NSDLĐ liên quan đến QHLĐ. TCLĐ cá nhân thường phát sinh trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật vào từng QHLĐ cụ thể, có nghĩa là tranh chấp các vấn đề mà pháp luật quy định các bên được hưởng, thực hiện hoặc những vấn đề mà các bên thỏa thuận từ trước trong HĐLĐ, Hợp đồng học nghề về việc làm, tiền lương, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, BHXH, BHYT, BHTN và các chế độ có liên quan khác trong QHLĐ. Thứ ba, TCLĐ cá nhân là tranh chấp giữa các bên có địa vị kinh tế pháp lý không ngang nhau và không tương xứng về lợi thế.
Do có đặc quyền trong kinh tế nên NSDLĐ có xu hướng lạm dụng quyền, đó là xu hướng chủ yếu dẫn đến xung đột. Còn NLĐ do không có lợi thế trong QHLĐ nên thường phát sinh những hành động tự vệ bản năng và dẫn đến hình thành ý thức đấu tranh để chống lại NSDLĐ. Rõ ràng, vị trí và những quyền trong QHLĐ đã tạo nên lợi thế cho NSDLĐ trong quá trình giải quyết tranh chấp. Khi xác lập QHLĐ, các bên thỏa thuận với nhau những nội dung cơ bản về quyền và nghĩa vụ trong QHLĐ.
Nhưng các quyền và nghĩa vụ đó được thực hiện bằng nhiều hành vi trong quá trình và trong nhiều không gian, thời gian khác nhau. Diễn biến quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các bên được phản ánh qua bộ máy quản lý, qua các công cụ quản lý của NSDLĐ.