Chương 1 Từ những phân tích nêu trên có thể thấy rằng pháp luật quy định phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng phương thức trọng tài đã từng bước phát triển và dần hoàn thiện hơn. TTTM là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp KDTM với nhiều ưu điểm vượt trội, từng bước thu hút sự quan tâm của các nhà kinh doanh trong nước lẫn quốc tế. Với việc trọng tài viên độc lập xét xử và quyền lực tài phán của trọng tài được pháp luật công nhận, làm cho phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng trọng tài vừa mang dáng dấp của phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải, vừa mang dáng dấp của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, với sự kết hợp này thì phương thức giải 16 quyết tranh chấp KDTM bằng trọng tài trở nên hoàn chỉnh hơn vì đã hội đủ tất cả bản chất và nội dung của các phương thức giải quyết tranh chấp khác. Phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng trọng tài đang từng bước phát huy vai trò của mình, có ý nghĩa là một phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tài phán tư.
Với những ưu điểm như thủ tục giải quyết dân chủ, đơn giản, linh hoạt, xét xử nhanh chóng, đảm bảo bí mật, phán quyết tin cậy…thực tiễn đã và đang chứng minh điều đó, trọng tài ngày càng phổ biến và trở thành phương thức giải quyết tranh chấp chủ yếu trong thương mại quốc tế, được các chuyên gia kinh tế đánh giá là phương thức giải quyết tranh chấp trong tương lai với nhiều ưu điểm nổi trội. 17 Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI 2. Những quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài. Thẩm quyền của trọng tài giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại Như đã đề cập ở mục 1.1, thẩm quyền của trọng tài chỉ phát sinh khi có TTTT và TTTT không thuộc trường hợp vô hiệu hoặc không thực hiện được.
Các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp là một phần hết sức quan trọng của pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM của trọng tài, theo đó pháp luật quy định rằng tranh chấp chỉ được giải quyết bằng trọng tài, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên tranh chấp có TTTT, khác với giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án – khi chủ thể trong quan hệ KDTM nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết mà không cần phải có thỏa thuận trước, nếu tố tụng Tòa án được bắt đầu khi có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, thì tố tụng trọng tài chỉ bắt đầu khi có TTTT. Tuy nhiên pháp luật về TTTM quy định việc có TTTT là chưa đủ để trao cho trọng tài thẩm quyền xét xử các tranh chấp KDTM mà tranh chấp được các bên thỏa thuận giải quyết tại trọng tài phải là những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài theo quy định tại Điều 2 của LTTTM, nhưng trước hết tác giả sẽ nghiên cứu và trình bày về sự tồn tại cũng như tính hợp pháp của TTTT. Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các nước về TTTM luôn quan tâm đặt biệt đến sự tồn tại và tính hợp pháp của TTTT nên trong các đạo luật về TTTM thường quy định một chương riêng theo thứ tự ưu tiên cho TTTT. Đặc biệt trong quá trình hội nhập hiện nay, tất yếu dẫn đến sự gia tăng số lượng và tính chất của các tranh chấp KDTM, thì các chủ thể kinh doanh cần phải nhận thức đúng tầm quan trọng của TTTT để từ đó có cơ sở xác lập TTTT một cách hợp pháp, có hiệu lực thi hành trên 18 thực tiễn nhằm thể hiện được ý chí của các bên mong muốn đưa tranh chấp của mình ra trọng tài giải quyết được thuận lợi và suôn sẽ ngay từ những bước đầu tiên.
Có thể khẳng định PLTTTM là văn bản pháp lý đánh dấu sự ra đời của chế định TTTM, bố cục của Pháp lệnh này đã quy định một chương riêng về TTTT tại Khoản 2 Điều 2 (thuộc Chương 2) định nghĩa về TTTT như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại”. Khoản 2 Điều 3 của LTTTM (cũng quy định tại Chương 2 sau Chương quy định các phần chung) thì định nghĩa TTTT như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”. Có thể thấy từ việc bố cục Chương cho quy định về TTTT đã thể hiện được vị trí và tầm quan trọng của nó trong tố tụng trọng tài Việt Nam. Từ hai định nghĩa về TTTT được quy định trong hai đạo luật tồn tại khác nhau về mặt thời gian đã thể hiện sự khác nhau trong việc xác định thẩm quyền của trọng tài, nếu như Pháp lệnh quy định thì việc xác định thẩm quyền trọng tài bị hạn chế bởi chỉ phát sinh trong các HĐTM, nên Pháp lệnh lại có định nghĩa về HĐTM tại Khoản 2 Điều 2: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gởi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, khách hàng bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”, với việc đặt tên là “Pháp lệnh” đã thể hiện rõ tính cứng nhắc của nó, dẫn đến sự hạn chế trong việc xác định thẩm quyền của TTTM.
Cũng như hình thức của TTTT được đề cập ở mục 1.1, là phải bằng văn bản, đây là quy định được pháp luật Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đều thống nhất thừa nhận và đây cũng là một trong những điều kiện có hiệu lực của TTTT. Thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng [41, tr. 19], quy định về thời 19 điểm xác lập TTTT như vậy là hết sức linh hoạt và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp trong việc xác lập TTTT, giúp tranh chấp tại Trọng tài được giải quyết hiệu quả hơn. TTTT là hình thức pháp lý để phát sinh tố tụng trọng tài, nó có những đặc điểm sau: Một là, tính tự nguyện: thỏa thuận là kết quả của sự đồng ý trước khi cân nhắc, thảo luận về một hay nhiều vấn đề, nó thể hiện ý chí của các bên cùng thống nhất vấn đề sau quá trình đàm phán, thảo luận, từ đó bản chất của nó là sự tự nguyện, vì nếu không tự nguyện thì không thể thống nhất ý chí để đưa ra một thỏa thuận.
Hai là, tính bắt buộc: vì là thỏa thuận được xây dựng trên sự tự nguyện của các bên tranh chấp, thỏa thuận là kết quả của quá trình đàm phán, thảo luận thì tất nhiên để đưa ra kết quả này thì các bên tranh chấp đã tìm hiểu về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, cũng đã biết được ưu và nhược điểm của phương thức này so với các phương thức khác, hơn nữa là uy tín của các chủ thể kinh doanh trong hoạt động KDTM thì việc quyết định chọn phương thức giải quyết tranh chấp cũng là một trong những quyết định trong KDTM nên cần có sự bảo đảm tuyệt đối, cần có trách nhiệm với sự lựa chọn của mình, tạo niềm tin cho đối tác. Vì thế mà khi TTTT được tự nguyện xác lập thì bắt buộc các bên phải chịu sự ràng buộc của nó. Ba là, tính độc lập: tính độc lập của TTTT được xét trong mối quan hệ với hợp đồng. Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng.
Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài [41, tr. 23], điều này được hiểu là một TTTT tồn tại dưới dạng điều khoản trọng tài hay thỏa thuận riêng thì đều độc lập hoàn toàn với hợp đồng (bao gồm hợp đồng bằng văn bản và hợp đồng miệng), trước đây quy định về tính độc lập của TTTT tại PLTTTM thì: điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không làm ảnh hưởng tới hiệu lực của điều khoản trọng tài [44, tr. 8] và Pháp lệnh cũng thừa nhận TTTT tồn tại dưới hai dạng là điều khoản trọng tài và thỏa thuận riêng, nhưng khi xét tính độc lập của TTTT thì chỉ quy định tính độc lập cho điều khoản trọng tài mà bỏ qua quy định cho thỏa thuận riêng, dẫn đến cách hiểu là vì thỏa thuận riêng là 20 thỏa thuận ngoài hợp đồng nên độc lập với hợp đồng là đương nhiên, mặc khác điều luật chỉ đề cập đến các trường hợp hợp đồng bị thay đổi, gia hạn, hủy bỏ, vô hiệu, nếu trường hợp hợp đồng không thể thực hiện được thì tính độc lập của TTTT (cụ thể là điều khoản trọng tài) có còn giá trị không? Vì những bất cập đó mà LTTTM quy định về tính độc lập của TTTT đã khắc phục được nhược điểm này, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải thích và áp dụng Điều luật này.
Có thể thấy rõ pháp luật quy định về hợp đồng vô hiệu là BLDS, pháp luật quy định về TTTT vô hiệu là LTTTM, từ việc xây dựng hai chế định này cho thấy tính độc lập hoàn toàn giữa TTTT và hợp đồng, cũng có trường hợp pháp luật quy định về nguyên nhân làm cho hợp đồng vô hiệu trùng với nguyên nhân làm cho TTTT vô hiệu, ví dụ như trường hợp chủ thể xác lập hợp đồng hoặc TTTT không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật, thì trong trường hợp này cả hợp đồng và TTTT đều vô hiệu theo quy định của pháp luật, tuy nhiên sự vô hiệu này là hoàn toàn độc lập với nhau, chứ không phải hợp đồng vô hiệu kéo theo sự vô hiệu của TTTT, vì hợp đồng vô hiệu theo Điều 407 của BLDS, còn TTTT vô hiệu theo Khoản 3 Điều 18 của LTTTM.