Chương 1 của Catherine Yannaca —Small về “Transparency and Third Party Participation in Investor — State Dispute Settlement Procedures’’(“Minh bạch va sự tham gia cua bên thứ ba trong thu tục ISDS”). Chương nay dé cập tới van đề minh bạch va sự tham gia của bên thứ ba trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư. Phần một của chương nghiên cứu các quy định liên quan tới tính minh bạch và sự tham gia của bên thứ ba trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư. Phan hai mô tả các bước được tiến hành nhằm tăng tính minh bạch của hệ thống bởi tòa trọng tài và ICSID ở cấp độ Chính phủ.
Phần ba xem xét các lợi thé cũng như thách thức của cơ chế minh bạch bồ sung. + Cũng trong khuôn khổ của OECD, cuốn sách “Foreign State Immunity and Foreign Government controlled Investors”(“Mién trừ quốc gia nước ngoài và chính phủ nước ngoài diéu chỉnh nhà dau te”) (2010) của Gaukrodger, D phân tích vê hai vân dé mang tính nguyên tac liên quan tới hoạt động của các nhà dau tư nước II ngoài bị điều chỉnh bởi nhà nước khác: Thứ nhất, liệu học thuyết về miễn trừ chủ quyền của quốc gia có thé gây ra những khó khăn cho phía chủ thé tư khi theo đuôi các yêu cầu pháp lý dé chống lại nhà nước. Thứ hai, liệu học thuyết đó có tạo ra các khoảng trống trong thực thi các quy định đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư. Mặc dù, có cách tiếp cận hạn chế để quyền miễn trừ được thừa nhận rộng rãi nhưng các van đề quan trọng như liệu các hoạt động đầu tư tài chính của một quỹ có mang tính chủ quyền.
Dựa vào các quy định pháp luật, công trình trên phân tích các chính sách của nhà nước trong phạm vi thuế, luật cạnh tranh, luật hình sự và chú ý tới các nhân tô căn bản có thê ảnh hưởng tới quyền miễn trừ trong các vụ việc như vậy - Bài viết “/nvestor — State Arbiration under Bilateral Trade and Investment Agreements: Finding Rhythm in Inconsistent Drumbeats” (“Trong tai dau tu theo BITs: Tim kiếm nhịp điệu trong tiếng trồng không nhất quán ”) năm 2013, của Ling Ling He & Razeen Sappideen đăng trên Journal of World Trade. Các tác giả đã xem xét bức tranh toàn cảnh về sự thay đổi trong giải quyết tranh chấp giữa nha đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư và những ảnh hưởng của cơ chế này lên các hiệp định thương mại song phương và hiệp định đầu tư. Phần hai của bài viết nghiên cứu về nguồn gốc của điều khoản ISA bang cách tham chiếu tới các phan của FTAs và BITs của các nền kinh tế chính như Hoa Kỳ, Ô-txơ-rây-li-a, Niu Di- lân và Trung Quốc. Phần ba, tác giả xem xét sự tranh luận về thực tiễn ISA trong các FTAs và BITs.
Phần bốn, điều tra về sự phát triển hiện nay của ISA ở các quốc gia có dấu hiệu muốn hạn chế bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài và ISA như Vê-nê —zu- ê la , Ô-txơ-rây-li-a và An Độ. Trong khi đó, động cơ của những quốc gia này có thé khác như déu bày tỏ sự bảo lưu đối với hệ thống ISA chiếm ưu thé nếu như không mong muốn. Hưởng ứng xu hướng này là các cam kết về ISA của Trung Quốc, những cam kết đó dường như theo hướng trực tiếp đối diện [82, tr. - Bài viết “Power, Authority and International Investment Law” (“Quyên lực, thẩm quyên và Luật dau tư quốc té”) năm 2010 của Tai Heng Cheng đăng trên American University International Law Review.
Công trình phân tích mối quan hệ giữa luật đầu tư quốc tế, quyền lực và thâm quyền. Dé chứng minh, công trình đã chỉ ra luật đầu tư quốc tế điều chỉnh lại việc ra quyết định toàn cầu bằng cách điều chỉnh quyền lực và thẩm quyền giữa các bên tham gia thông qua bốn quá trình: Một là kích hoạt sự hoán đổi giữa quyền lực và thâm quyên, hai là rút bớt quyền lực và thâm quyền của nhà nước, ba là chuyên quyền lực và thẩm quyền sang các chủ thé ra quyết định khác, bốn là khôi phục quyền lực và thẩm quyền của nhà nước. Các nhà xây dựng chính sách ở cả quôc gia nhiêu quyên lực và ít quyên lực hơn đều coi 12 sự chuyên giao quyền lực và thâm quyền này như sự tấn công không thê điều chỉnh lên thâm quyên. - Cuốn sách “International Business Law” (“Luật kinh doah quốc té”) năm 2008, của Ray A.August, Don Mayer, Michael Bixby, Nhà xuất bản Printice Hall, Mỹ.
Chương 3 của sách đã phân tích một số nội dung cơ bản của ICSID, bên cạnh đó Chương này còn đề cập tới các vấn dé ly luận như lich sử, nội dung thuyết miễn trừ chủ quyền quốc gia, thuyết miễn chủ quyền quốc gia tương đối và phân tích vụ kiện giữa Công ty ABBOTT của Mỹ và Cộng hòa Nam Phi dé minh hoa cho các học thuyết được nghiên cứu. - Các công trình của UNCTAD Cũng giống OECD, UNCTAD có nhiều chuyên đề phân tích các khía cạnh khác nhau liên quan đến ISDS. Sau đây là một số các công trình điển hình: + Cuốn sách “Investor - State Dispute Settlement arising from Investment Treaties: A review” (“ISDS phát sinh từ các hiệp định dau tw: Tổng quan”) năm 2005. Sách này phân tích về thủ tục và nội dung trong giải quyết tranh chấp giữa nha đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tưcủa các hiệp định đầu tư.
Về thủ tục, đề cập tới các khái niệm cơ bản như “nhà đầu tư”, “đầu tư”, các khái niệm để xác định chủ thé nào có thé khởi kiện, các trường hợp kiện nhiều bên, xung đột thâm quyên. Về nội dung, sách tập trung luận giải các điều kiện về bảo hộ đầu tư trong HAs được đưa ra các cơ quan tài phán quốc tế. Sau cùng sách chỉ ra những tôn tại trong thủ tục, nội dung và vai trò của cộng đồng quốc tế. + Cuốn “Investor - State Dispute Settlement and impact on Investment rulemaking” (“ISDS và tác động tới xây dung quy định dau tw”) năm 2007.
Do sự gia tăng các điều khoản giải quyết tranh chấp trong hiệp định đầu tư dẫn tới tăng phán quyết trọng tài theo thủ tục và nội dung của pháp luật đầu tư. Điều đó ảnh hưởng tới quá trình xây dựng các quy định về đầu tư. Từ lập luận trên, các tác giả biên soạn sách đã phân tích xu hướng xây dựng các quy định về đầu tư quốc tế trong phạm vi các hiệp định; Xu hướng hình thành các quy định đầu tư quốc tế từ thực tiễn của trọng tài; Phân tích tác động của kinh nghiệm giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư lên quá trình xây dựng pháp luật đầu tư. Từ đó, đưa ra các nhận định trong việc áp dụng sự thay đôi của van đề trên ở các quốc gia có liên quan và phân tích thực tiễn ISDS từ góc nhìn chung và pháp lý dé phục vụ cho quá trình phát triển ở các quốc gia và dự kiến sẽ có những đánh giá mang tính tổng thé báo gồm cả giám sát đàm phán IIAs tương lai.
+ Cuốn sách “Transparency - Series on Issues in International Investment Agreements IT’ (“Minh bạch - Những van dé về Hiệp định dau tu quốc tế IP’) năm 13 2012. Cuốn sách đặt ra yêu cầu nghiên cứu tính minh bạch của các điều khoản ISDS trong các Hiệp định đầu tư quốc tế do ISDS thường liên quan đến khu vực công: các quy định của Chính phủ được ban hành nhằm các mục tiêu phúc lợi công có thê là đối tượng của tranh chấp; sự hiện diện của nhà nước trong trọng tài thúc đây các nghĩa vụ quản trị tốt; chi phi của việc biện hộ và bồi thường tài chính được rút từ các quỹ công. + Cuốn sách “/nvestor - state dispute settlement - Series on Issues in International Investment Agreements II’ (“ISDS - Những vấn dé về Hiệp định dau tu quốc tế IT”) năm 2013. Cuén sách đưa ra các nghiên cứu về phạm vi của ISDS, các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính hòa bình, các diễn đàn cho các tranh chấp ISDS, trọng tài và tòa án quốc gia, lựa chọn trọng tài viên và các thách thức đặt ra cho việc lựa chọn trọng tài viên, các yêu cầu đặt ra bởi nhà đầu tư nhân danh nhà đầu tư hoặc nhân danh doanh nghiệp, đơn kiện lại từ phía nhà nước bị đơn, van đề luật áp dung, sự tham gia của nhà nước vào quá trình giải quyết tranh chap, chi phi của trọng tài, van đề xem xét phán quyết của trọng tài, thi hành phán quyết của trọng tài.
Nhóm công trình liên quan tới các phương thức giải quyết tranh chấp giữa nhà dau tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận dau tư. Có nhiều phương thức giải quyết khác nhau được sử dụng để giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư như bằng con đường bảo hộ ngoại giao, tòa án quốc gia, trọng tài quốc tế. Do vậy, cũng có nhiều công trình nghiên cứu viết về việc áp dụng các phương thức trên dé giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư, trong đó phần lớn các bài viết tập trung vào phương thức giải quyết bằng trọng tài quốc tế. - Bài viết “Investor - State dispute Settlement between developed countries: Reflections on the Australia - United States Free Trade - Agreement” (“ISDS giữa các quốc gia phát triển: phan ánh thông qua FTA giữa Uc va My”) năm 2006 của William S.Dodge đăng trên Vaderblilt Journal of Transnational Law đã phân tích xu hướng giải quyết tranh chấp từ bảo hộ ngoại giao đến các phương thức được nêu trong NAFTA va AUSFTA.
Lý giải tại sao các quốc gia phát triển có thé cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng các phương thức khởi kiện trực tiếp. Các quốc gia này có hệ thống pháp luật phát triển, có khả năng giải quyết các tranh chấp - Bài viết “Making amends: Amending the ICSID Convention to reconcilde coming inerests in international investment law” (“Xây dung những sửa đổi: Sửa đổi Công ước ICSID dé dung hòa lợi ích trong tương lai theo luật dau tu quốc tế”) năm 2009 của Kate M. Supnik đăng trên Duke Law Journal. Công trình nay chỉ rõ việc bổ 14 sung vào Công ước ICSID điều khoản cho phép cơ quan tài phán được xem xét các mối quan ngại về môi trường, sức khỏe cộng đồng và lao động, thể hiện như một bước tiễn cho việc thành lập chế độ đầu tư tối đa hóa lợi ích của nhà đầu tư cũng như quốc gia tiếp nhận đầu tư.