Chương I: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng tín dụng ngân hàng và pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân. Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chương III: Quan điểm về hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.
Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại hợp đồng tín dụng * Khái niệm hợp đồng tín dụng Theo Điều 385, Bộ Luật dân sự (BLDS) năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” thì hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự vì quan hệ tín dụng về bản chất cũng là một quan hệ dân sự. Theo Điều 463, BLDS năm 2015 quy định:“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định” thì hợp đồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, chỉ được gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD).
Luật các TCTD năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân” ( Điều 4, Khoản 1). Theo Khoản 14, Điều 4, Luật các TCTD năm 2010 thì: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là một căn cứ pháp lý mà qua đó TCTD thực hiện hoạt động cấp tín dụng. Việc cho vay của TCTD và khách hàng vay phải được lập thành HĐTD.
Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về số tiền cho vay, mục đích sử dụng vốn vay, đồng tiền cho vay, đồng tiền trả nợ, phương thức cho vay, thời 7 hạn cho vay, lãi suất cho vay, giải ngân vốn cho vay và việc sử dụng phương tiện thanh toán để giải ngân vốn cho vay, hình thức bảo đảm, phương thức trả nợ và những nội dung khác được tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan. Do đó có thể hiểu:“Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận chung bằng văn bản giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng và bên vay là cá nhân, tổ chức nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật, theo đó tổ chức tín dụng chuyển giao một số tiền cho cá nhân, tổ chức sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. * Đặc điểm của hợp đồng tín dụng Với định nghĩa về HĐTD như trên, có thể thấy ngoài những dấu hiệu chung của một loại hợp đồng, HĐTD còn có một số đặc điểm đặc trưng sau đây để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao dịch dân sự, thương mại: - Về chủ thể: Một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là TCTD có đủ điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân đáp ứng đầy đủ những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định.
- Về hình thức: HĐTD luôn luôn được lập thành văn bản, đa phần là hợp đồng theo mẫu. Tên gọi của HĐTD có thể là: Hợp đồng tín dụng, Thỏa thuận cho vay, Hợp đồng vay, Khế ước vay vốn. Hoặc phụ thuộc vào thời hạn vay, mục đích vay, hợp đồng có thể thêm các cụm từ: “ngắn hạn”, “trung hạn”, “dài hạn”, “đồng Việt Nam”, “ngoại tệ”, “tiêu dùng”, “kinh doanh”, “đầu tư”. - Về đối tượng: Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền.
Về nguyên tắc, đối tượng của HĐTD bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng. - Về tính rủi ro: HĐTD chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vay bởi theo cam kết trong HĐTD, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro càng lớn. Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ HĐTD cũng thường xảy ra với số 8 lượng và tỷ lệ lớn hơn so với các loại hợp đồng khác.
- Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: Trong HĐTD, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay của bên cho vay (nghĩa vụ giải ngân) bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng HĐTD cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với mình bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận với bên cho vay… * Phân loại hợp đồng tín dụng a. Căn cứ vào thời hạn cho vay. HĐTD chia thành 3 loại: - HĐTD ngắn hạn: Là loại HĐTD có thời hạn tối đa 12 tháng (1 năm).
Là hợp đồng tín dụng sử dụng vốn vay nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp hoặc đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - HĐTD trung hạn: Là loại HĐTD có thời gian từ trên 12 tháng đến tối đa 60 tháng (từ trên 1 năm đến tối đa 5 năm). Là hợp đồng tín dụng trong đó người vay sử dụng vốn vay để mua sắm các tư liệu sản xuất, đổi mới thiết bị và dây chuyền công nghệ để nâng cao và mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh. - HĐTD dài hạn: Là HĐTD có thời gian trên 60 tháng (trên 5 năm).
Là loại hợp đồng tín dụng sử dụng vốn vay để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà máy, xí nghiệp mới hoặc đầu tư thực hiện các dự án có quy mô lớn và thời gian đầu tư lâu dài. Căn cứ vào đối tượng cho vay. HĐTD chia làm 2 loại: - HĐTD cho vay phục vụ nhu cầu đời sống: Là hình thức vay theo đó TCTD cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó.Phạm Văn Tuyết & TS.Lê Kim Giang, Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2012, tr.25 9 - HĐTD cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh: là hình thức vay theo đó TCTD cho vay đối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn, bao gồm nhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay.
HĐTD chia thành 2 loại: - HĐTD không có bảo đảm: Là hợp đồng tín dụng không có các biện pháp bảo đảm như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh kèm theo. Việc cho vay được thực hiện trên cơ sở ngân hàng đánh giá, xếp loại uy tín của khách hàng, theo đó đối với khách hàng truyền thống, có bề dày uy tín trong quan hệ tín dụng, có khả năng tài chính, quản trị và sử dụng vốn vay có hiệu quả thì ngân hàng có thể chỉ cần dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đó mà cho vay. - HĐTD có bảo đảm: là hợp đồng tín dụng trong đó để được vay khách hàng phải có tài sản thế chấp để cầm cố, thế chấp hoặc có người thứ ba bảo lãnh để bảo đảm việc trả nợ vay. Loại cho vay này được áp dụng với khách hàng thông thường nhằm tạo ra nguồn thu bổ sung dự phòng cho trường hợp khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ khi đến hạn.
Đối tƣợng, phạm vi và chủ thể của hợp đồng tín dụng * Đối tƣợng của hợp đồng tín dụng Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền như đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ. Về nguyên tắc, đối tượng của HĐTD bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng. * Phạm vi của hợp đồng tín dụng - Về thời hạn cho vay: Tổ chức tín dụng và khách hàng căn cứ vào chu kỳ hoạt động kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, khả năng trả nợ của khách hàng, nguồn vốn cho vay và thời hạn hoạt động còn lại của tổ chức tín dụng để thỏa thuận về 2 Điều 2, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.Phạm Văn Tuyết & TS.Lê Kim Giang, Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2012, tr. 10 thời hạn cho vay.
Đối với khách hàng là pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động hợp pháp của khách hàng; đối với cá nhân có quốc tịch nước ngoài cư trú tại Việt Nam, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép cư trú còn lại tại Việt Nam.