Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN 1. Khái quát về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 1. Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp lao động cá nhân Khái niệm tranh chấp lao động cá nhân: Để làm rõ khái niệm tranh chấp lao động cá nhân trước hết cần làm rõ khái niệm tranh chấp lao động. Định nghĩa về TCLĐ đầu tiên được ghi nhận trong Luật TCLĐ năm 1906 của Anh và mục 8 Luật tòa án lao động Anh năm 1919 quy định: "TCLĐ [trade dispute] có nghĩa là bất kỳ tranh chấp nào giữa NSDLĐ và NLĐ hoặc giữa NLĐ và NSDLĐ liên quan đến việc tuyển dụng lao động hay các điều khoản thỏa thuận về thuê mướn lao động hoặc liên quan đến các điều kiện lao động của bất kỳ người nào”1.
Với định nghĩa nêu trên, khái niệm về TCLĐ được giới hạn về mặt chủ thể (phải là NLĐ hoặc chủ thể lao động). Định nghĩa này được nhiều nước tiếp thu như Brunnây, Hồngkông, Malayxia, Singapore… Khác với pháp luật Anh, định nghĩa về TCLĐ của Mỹ được hiểu là: "Bất kỳ tranh cãi nào về các điều khoản, thời hạn, hay điều kiện về thuê mướn lao động, hay liên quan đến vấn đề tổ chức hoặc đại diện trong thương lượng, quyết định, duy trì, thay đổi, hay nỗ lực, dàn xếp các điều khoản hay điều kiện về thuê mướn lao động bất kể là các bên tranh chấp có phải là [các bên] trong quan hệ lao động hay không (Theo mục 2.9 Luật quan hệ lao động quốc gia của Hoa Kỳ). Định nghĩa về TCLĐ của Mỹ bao quát và không giới hạn về chủ thể tranh chấp như pháp luật của nước Anh. Định nghĩa này cũng được nhiều nước tiếp thu.
Chẳng hạn theo Điều 121.1 BLLĐ Philippin năm 1974 TCLĐ (labour dispute) được hiểu là: "Bất kỳ tranh cãi hay vấn đề nào liên quan đến các điều khoản và điều kiện thuê mướn lao động hoặc vấn đề tổ chức hay đại diện trong thương lượng, quyết định, duy trì, thay đổi, hay dàn xếp các điều khoản và điều kiện về thuê mướn lao động bất kể là các bên tranh chấp có phải là [các bên] trong mối QHLĐ gần gũi hay không”. 1 (1906), Trade Dispute Act 1906, (1919), Industrial courts act 1919. 8 Luật điều chỉnh QHLĐ năm 1946 của Nhật Bản định nghĩa: "TCLĐ là sự bất đồng về các bên liên quan đến QHLĐ và dẫn đến việc một hành động tranh chấp hay dẫn đến một hành động như vậy. Hành động trong định nghĩa này được hiểu là: “Đình công, lãn công, bế xưởng hoặc các hành động khác đáp trả làm cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp do các bên liên quan đến QHLĐ và thực hiện nhằm đạt được yêu cầu của họ”.
Như vậy, mỗi một quốc gia tiếp cận khái niệm TCLĐ ở những góc độ khác nhau nhưng về bản chất khái niệm TCLĐ đều được xây dựng dựa trên mối QHLĐ giữa NLĐ và NSDLĐ và TCLĐ phát sinh do sự mâu thuẫn, xung đột về quyền và lợi ích của các chủ thể trong QHLĐ. Do đó khái niệm TCLĐ được hiểu như sau: TCLĐ là những tranh chấp phát sinh do sự mâu thuẫn, xung đột về quyền và lợi ích của các chủ thể trong QHLĐ và các chủ thể khác có liên quan. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có cách phân loại tranh chấp và thông thường đa phần các quốc gia đều phân loại tranh chấp tồn tại dưới dạng: Tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn tập trung làm rõ khái niệm tranh chấp lao động cá nhân.
Tranh chấp lao động cá nhân là những bất đồng về quyền và lợi ích xảy ra giữa “cá nhân NLĐ với NSDLĐ” (khác với TCLĐTT là tranh chấp xảy ra giữa tập thể lao động với NSDLĐ). Nội dung và mục đích của tranh chấp chỉ liên quan đến cá nhân chủ thể phát sinh tranh chấp (khác với TCLĐTT nội dung và mục đích tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của cả tập thể lao động). Như vậy, tranh chấp lao động cá nhân có thể hiểu là những xung đột liên quan đến quyền và lợi ích giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động trong quá trình xác lập, thực hiện, chấm dứt quan hệ lao động. Đặc điểm tranh chấp lao động cá nhân: Về mặt pháp lý, tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể đều có những đặc điểm chung của tranh chấp lao động.
Tuy nhiên, TCLĐ cá nhân cũng có đặc điểm riêng để phân biệt với tranh chấp lao động tập thể: 9 Thứ nhất, một bên chủ thể của tranh chấp lao động cá nhân là NLĐ hoặc là một nhóm NLĐ. Như vậy, tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa cá nhân NLĐ hoặc một nhóm NLĐ với NSDLĐ. Khác với tranh chấp lao động tập thể ở chỗ chủ thể trong tranh chấp lao động tập thể là tập thể NLĐ và thường có sự tham gia của tổ chức đại diện. Trong tranh chấp lao động cá nhân nếu có sự tham gia của một nhóm NLĐ thì giữa những NLĐ này không có sự liên kết nào về quyền và lợi ích, mỗi cá nhân NLĐ có một yêu cầu riêng đối với NSDLĐ.
Hiện nay, pháp luật lao động Việt Nam không quy định nhóm người tham gia tranh chấp lao động gồm bao nhiêu người thì được coi là tranh chấp lao động cá nhân. Chính vì chủ thể của tranh chấp lao động cá nhân là cá nhân NLĐ hoặc một nhóm NLĐ với NSDLĐ cho nên tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp lao động không mang tính tổ chức, không có quy mô và không phức tạp như tranh chấp lao động tập thể. Tranh chấp lao động cá nhân mang tính chất đơn lẻ, không có sự thống nhất ý chí và sự gắn kết giữa những NLĐ như trong tranh chấp lao động tập thể. Mặc dù vậy, để phân biệt tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể không chỉ dựa vào yếu tố chủ thể của tranh chấp lao động mà còn phải dựa vào các yếu tố khác.
Thứ hai, về mặt nội dung, tranh chấp lao động cá nhân là những tranh chấp liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của cá nhân, một trong số trường hợp là một nhóm người lao động hoặc người sử dụng lao động liên quan đến quan hệ lao động. Tranh chấp lao động cá nhân thường phát sinh trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật vào từng quan hệ lao động cụ thể, có nghĩa là tranh chấp các vấn đề mà pháp luật quy định các bên được hưởng, thực hiện hoặc những vấn đề mà các bên thỏa thuận từ trước trong hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề, về việc làm, tiền lương, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, BHXH, BHYT, BHTN và các chế độ có liên quan khác trong quan hệ lao động. Đây là điểm khác biệt của tranh chấp lao động cá nhân với tranh chấp lao động tập thể. Nội dung của tranh chấp lao động tập thể có thể là những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của tập thể lao động hoặc có thể phát sinh từ những vấn đề mà các bên đã thỏa thuận, pháp luật đã quy định trước đó hoặc có thể phát sinh từ những vấn đề mà 10 pháp luật còn chưa quy định hoặc còn để ngỏ.
Tức là tranh chấp lao động tập thể có thể phát sinh ngay cả khi không có sự vi phạm pháp luật lao động. Thứ ba, tranh chấp lao động cá nhân có khả năng chuyển hóa thành tranh chấp lao động tập thể. Quan hệ lao động được hình thành trước hết dựa trên cơ sở hợp đồng lao động giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ. Tuy nhiên, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc để thực hiện công việc, một dịch vụ nào đó, NSDLĐ thường thuê mướn, sử dụng nhiều NLĐ.
Khi những NLĐ liên kết với nhau trong một tổ chức và hình thành tập thể lao động thì quan hệ lao động mang một hình thái mới, đó là quan hệ đa chiều, đan xen và liên kết chặt chẽ với nhau như: quan hệ giữa NLĐ với NSDLĐ, với tập thể NLĐ, với cơ quan quản lý nhà nước, quan hệ giữa tập thể lao động với NSDLĐ, với cá nhân NLĐ, với tổ chức đại diện của tập thể lao động. Trong đó, mối quan hệ đóng vai trò trung tâm, chi phối quan hệ lao động là quan hệ giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ và giữa NSDLĐ với tập thể NLĐ. Khi xảy ra tranh chấp, bất kể quyền, lợi ích của cá nhân có liên quan tới quyền, lợi ích của tập thể lao động hay không thì việc tranh chấp giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ cũng đều có thể dẫn đến phát sinh tranh chấp lao động tập thể. Tranh chấp lao động cá nhân có thể chuyển hóa thành tranh chấp lao động tập thể trong trường hợp mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp trở nên căng thẳng, ứng xử của các bên có thể tạo ra sự lan truyền sang tập thể, gây tâm lý bức xúc dẫn đến những phản ứng mang tính tập thể và từ đó châm ngòi cho một vụ tranh chấp lao động tập thể.
Đặc điểm này đòi hỏi cần có cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp để vụ việc tranh chấp được giải quyết một cách nhanh chóng nhất có thể. Một khả năng khác có thể làm cho vụ việc tranh chấp lao động cá nhân chuyển hóa thành tranh chấp lao động tập thể đó là khi quyền, lợi ích của cá nhân NLĐ có liên quan hoặc đồng thời là cũng là quyền, lợi ích của tập thể lao động. Lúc đầu mới chỉ phát sinh tranh chấp giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ, qua diễn biến tranh chấp và quá trình giải quyết tranh chấp của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, tập thể lao động nhận thấy quyền, lợi ích đó có liên quan đến tập thể lao động và tham gia cùng cá nhân NLĐ đang tranh chấp để đòi quyền lợi chung. 11 Sự chuyển hóa của tranh chấp lao động cá nhân thành tranh chấp lao động tập thể phản ánh một khía cạnh lý luận về quan hệ lao động và tranh chấp lao động, đó là: quan hệ lao động, tranh chấp lao động trước hết là quan hệ phát sinh giữa NLĐ với NSDLĐ.
Về ý nghĩa thực tiễn, vẫn đế này tác động trực tiếp vào việc quản lý, sử dụng lao động của NSDLĐ và đòi hỏi hệ thống cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động phải được tổ chức một cách hợp lý. Thứ tư, trong TCLĐ cá nhân, tổ chức đại diện người lao động tham gia với vai trò bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho NLĐ.