CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại 1. Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại 1. Định nghĩa và đặc điểm của tranh chấp thương mại Tranh chấp thương mại xảy ra thường xuyên như một hiện tượng khách quan, phổ biến cho các chủ thể tham gia trong nền kinh tế thị trường.
Theo đó, muốn hiểu được tranh chấp thương mại là gì cần phải hiểu được tranh chấp là gì. Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Tranh chấp là giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào, hoặc đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng” (Hoàng Phê, 2018, p. Như vậy nôm na tranh chấp là sự mâu thuẫn, bất đồng giữa tối thiểu hai bên có thể trên nhiều khía cạnh khác nhau. Tại Việt Nam, xét về khía cạnh pháp lý, “tranh chấp thương mại” không được định nghĩa cụ thể ở bất cứ văn bản pháp luật hiện hành nào mà nó mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận thông qua luật nội dung và luật tố tụng nên ta chỉ có thể định nghĩa tranh chấp thương mại dựa trên những cơ sở khác.
Trước đây, theo quy định tại Điều 238 LTM 1997 có đưa ra định nghĩa như sau: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Tuy nhiên, khái niệm này vấp phải nhiều bất cập khi bó hẹp nội hàm hoạt động thương mại, loại bỏ rất nhiều tranh chấp mà xét về bản chất thì các tranh chấp đó hoàn toàn có thể được coi là các tranh chấp thương mại. Cho nên thay vào đó, nhà lập pháp đã đưa ra một định nghĩa mới bao quát hơn, đơn giản hơn nhưng đầy đủ nội hàm của hoạt động thương mại. Cụ thể theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 LTM 2005 (SĐ, BS 2019): “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi 7 khác”.
Nhận thấy ở đây, khái niệm hoạt động thương mại được mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi từ đó đánh giá rõ nhất phạm vi tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Từ những phân tích cơ bản trên có thể định nghĩa tranh chấp thương mại là những bất đồng, mâu thuẫn giữa ít nhất hai bên chủ thể phát sinh trong hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi. Nếu định nghĩa một cách đơn giản hơn có thể hiểu tranh chấp thương mại chính là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong suốt quá trình thực hiện các hoạt động thương mại (Nguyễn Viết Tý & Nguyễn Thị Dung, biên soạn, 2020, p. Từ định nghĩa trên, có thể rút ra một số đặc điểm của tranh chấp thương mại như sau: Thứ nhất, về điều kiện phát sinh tranh chấp thương mại.
Xuất phát từ bản chất tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, xung đột không thể hài hoà về quyền và nghĩa vụ giữa ít nhất hai bên chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi nên có thể hiểu điều kiện cần và đủ để phát sinh tranh chấp là phải có quan hệ thương mại và tồn tại mâu thuẫn, xung đột giữa các bên trong quan hệ đó. Hay nói cách khác, những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động thương mại (Nguyễn Viết Tý & Nguyễn Thị Dung, biên soạn, 2020, p. Thứ hai, về căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại. Tranh chấp thương mại phát sinh xuất phát từ căn cứ hoặc là hành vi vi phạm hợp đồng (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng) hoặc là hành vi vi phạm pháp luật (hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quan hệ thương mại được pháp luật bảo vệ).
Theo đó, dù là vi phạm pháp luật hay vi phạm hợp đồng cũng đều là căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại nếu vi phạm này đủ gây ảnh hưởng, gây thiệt hại đến lợi ích của một hoặc nhiều bên. Thứ ba, về chủ thể của tranh chấp thương mại. Chủ thể trong tranh chấp thương mại khá đa dạng nhưng chủ yếu vẫn là các thương nhân. Tuy nhiên, thương nhân không phải chủ thể duy nhất mà còn có các chủ thể khác được coi là trường hợp 8 ngoại lệ mặc dù là các cá nhân, tổ chức không phải là thương nhân nhưng vẫn tồn tại với tư cách là chủ thể của tranh chấp thương mại.
Định nghĩa và đặc điểm của giải quyết tranh chấp thương mại Dựa trên định nghĩa tranh chấp thương mại có thể hiểu giải quyết tranh chấp thương mại là việc các bên tranh chấp giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn giữa ít nhất hai bên chủ thể phát sinh trong hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi. Định nghĩa một cách khái quát hơn thì có thể hiểu giải quyết tranh chấp thương mại là quá trình bằng phương thức nhất định buộc bên có hành vi vi phạm phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm để giải quyết mâu thuẫn. Như vậy, về cơ bản có thể hiểu giải quyết tranh chấp thương mại là việc các bên tranh chấp sử dụng các phương thức cần thiết, các thủ tục thích hợp nhằm tiến hành chấm dứt mâu thuẫn, bất đồng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, trên cơ sở đó đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể. Từ định nghĩa trên, nhận thấy giải quyết tranh chấp thương mại có những đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, về luật áp dụng giải quyết tranh chấp thương mại.
Khi giải quyết tranh chấp thương mại các bên lựa chọn các quy định của LTM để giải quyết. Bên cạnh đó tuỳ theo việc các bên lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là gì mà áp dụng các luật về tố tụng, luật hình thức khác chẳng hạn như lựa chọn TTTM thì sẽ áp dụng thêm LTTTM 2010 để tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục. Thứ hai, về nội dung giải quyết tranh chấp thương mại. Hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại có nội dung chủ yếu là hoạt động thực hiện gỡ bỏ các mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các bên, trên cơ sở đó đảm bảo quyền và lợi ích giữa các chủ thể kinh doanh.
Giải quyết tranh chấp thương mại xoay quanh việc lựa chọn phương thức nào phù hợp, tối ưu để khắc phục những bất đồng một cách nhanh chóng, hiệu quả. Như vậy, về cơ bản việc giải quyết thoả đáng các tranh chấp thương mại đặc biệt là trong bối cảnh đất nước đang hội nhập quốc tế như hiện nay có những ý nghĩa 9 quan trọng phải kể đến như sau: Trước hết, suy cho cùng mục đích hướng tới của việc giải quyết tranh chấp là nhằm khắc phục những mâu thuẫn, bất đồng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, từ đó “giải toả sự nặng nề về tâm lý, duy trì và củng cố quan hệ hợp tác lâu dài giữa các bên tranh chấp” (Nguyễn Thái Hà, biên soạn, 2020). Bên cạnh đó, việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, hiệu quả sẽ tạo điều kiện đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại, giữa các công dân trong quá trình thực hiện pháp luật, thông qua đó tạo điều kiện để xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân. Cuối cùng, từ thực tiễn thi hành pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp có thể đánh giá được việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn như thế nào, trên cơ sở đó tiến hành chỉ ra những bất cập, tồn tại để đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động kinh doanh thương mại, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kinh tế phát triển theo đúng mong muốn của xã hội (Nguyễn Thái Hà, biên soạn, 2020).
Nhìn chung, việc giải quyết các tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại nói riêng đã mang lại không ít những ý nghĩa trên nhiều khía cạnh đặc biệt là trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ khiến vấn đề tranh chấp, xung đột giữa các chủ thể kinh doanh là điều khó tránh khỏi. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại Mỗi quốc gia trên thế giới tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của mình mà quy định các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau, tuy nhiên, có thể khái quát tranh chấp thương mại được giải quyết bằng một trong bốn phương thức sau đây: Thương lượng, Hoà giải, Tòa án và Trọng tài. Thứ nhất, thương lượng Phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng là phương thức tồn tại lâu đời, được áp dụng phổ biến để giải quyết tranh chấp đặc biệt là tranh chấp thương mại. Hiện nay không có định nghĩa trong văn bản pháp luật nào quy định thương lượng là gì bởi bản chất phương thức này mang tính chất tự nguyện nhiều hơn pháp lý.
Nếu hiểu một cách đơn giản thương lượng chính là sự thỏa thuận, đàm phán để cùng nhau giải quyết vấn đề. Hiểu một cách cụ thể đặt trong việc giải quyết tranh 10 chấp thương mại thì thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên thứ ba nào (Nguyễn Viết Tý & Nguyễn Thị Dung, biên soạn, 2020, p. Đây là phương thức chỉ có sự tham gia của hai bên tranh chấp mà không có sự hiện diện của bên thứ ba. Nói cách khác thì đây là cơ chế tự giải quyết thông qua việc các bên gặp nhau đàm phán, thỏa thuận để tự giải quyết những mâu thuẫn phát sinh mà không có sự hiện diện của bất kỳ bên thứ ba nào để hỗ trợ hay đứng lên ra phán quyết bởi một cơ quan nhà nước nào.
Bên cạnh đó, các bên cũng không chịu sự ràng buộc của bất kì quy định pháp lí nào trong quá trình thương lượng.