CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI. KHÁI QUÁT VỀ TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI. Khái niệm về hoạt động kinh doanh thương mại. Khái niệm về hoạt động kinh doanh thương mại được định nghĩa trong nhiều luật cHên ngành cụ thể: -Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 “ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” theo định nghĩa này hoạt động thương mại tập trung vào hai hoạt động là lưu thông hàng hóa và dịch vụ.Theo khoản 8 Điều 3 LTM thì các hoạt động mua và bán theo thỏa thuận của bên mua và bên bán được xem là thương mại hàng hóa và cũng theo qui định của khoản 9 Điều 3 LTM thì cung cứng dịch vụ là hoạt động theo đó các bên tham gia sử dụng dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ thực hiện các hoạt động theo thỏa thuận.1 Các chủ thể tham gia trong hoạt động này mục đích tìm kiếm lợi nhuận, diễn ra thường xuyên liên tục trên thị trường và mang tính nghề nghiệp.
- Có thể hiểu theo nghĩa bao quát hơn trong nội hàm của điều luật qui định về những tranh chấp kinh doanh thương mại tại Điều 30, 31 BLTTDS 2015 là những quan hệ pháp luật diễn ra trong hoạt động kinh doanh thương mại, các quan hệ trong lĩnh vực này rất đa dạng: quan hệ sỡ hữu, quan hệ trao đổi hàng hóa và quan hệ lao động. luật Dân sự đã khái quát hơn toàn bộ các hoạt động thương mại trong nhiều lĩnh vực bao gồm mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế, nhằm mục đích sinh lợi đồng nghĩa với hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh là việc thực hiện liên tục một hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường, các hoạt đồng đầu tư dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp nhằm mục đích lợi nhuận đều là 1 Điều 3 Luật thương mại. 7 hoạt động kinh doanh.Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng nội hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng các dịch vụ…nhằm mục đích sinh lợi, do đó hai hoạt động này đã được BLTTDS 2015 gọi chung là hoạt động kinh doanh, thương mại.
Tóm lại hoạt động kinh doanh thương mại là những hoạt động mà theo đó các chủ thể tham gia vào các giao dịch với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và là những hoạt động được điều chỉnh trong rất nhiều luật cHên ngành như : vận tải, ngân hàng, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản, luật kinh doanh bảo hiểm.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại: Để phân biệt hoạt động kinh doanh thương mại với các hoạt động khác trong các mối quan hệ ,xã hội cần phân biệt ở các đặc điểm sau: 1.1 Về chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại. Định nghĩa chủ thể kinh doanh: là từ dùng để các định cá nhân hay tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh, tuy thuật ngữ chủ thể kinh doanh được phổ biến trong các tạp chí cHên ngành pháp lý – kinh tế, giáo trình, báo chí và các tài liệu tham khảo, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức nào định nghĩa rõ về chủ thể kinh doanh thương mại.2 Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, chủ thể tham gia vào các hoạt đồng kinh doanh thương mại rất đa dạng, bao gồm tất cả các loại hình doanh nghiệp, tổ hợp tác, hộ gia đình và cả cá nhân. Chủ thể trong hoạt động kinh doanh có những đặc điểm cơ bản sau: - Đặc điểm về tài sản: Cá nhân, tổ chức là chủ thể khinh doanh tham gia vào hoạt động kinh doanh phải có tài sản riêng và thể hiện tính độc lập khả năng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm, chi phối tài sản này theo nhu cầu của hoạt động kinh doanh trên toàn bộ hoạt động của mình và chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó trước pháp lập - Chức năng kinh doanh: một chủ thể kinh doanh có quyền hoạt động kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm đăng ký kinh doanh và được 2 Một số vấn đề vể chủ thể kinh doanh - tác giả Phan Công Thương -thông tin pháp luật dân sự ngày 19.2007 8 cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, phải thực hiện hoạt động đăng ký kinh doanh một cách thường xuyên nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận ( trừ những pháp nhân phi lợi nhuận qui định tại Điều 76 BLDS 2015).Theo qui định của Luật thương mại năm 2005 “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm”3.
Mặt khác, luật doanh nghiệp năm 2014 cũng qui định khá rõ thương nhân có nghĩa bao hàm rộng hơn, đồng nghĩa với chủ thể kinh doanh có nghĩa rộng hơn khái niệm doanh nghiệp theo đó luật doanh nghiệp qui định mọi thương nhân đều là chủ thể kinh doanh và mọi doanh nghiệp đều là thương nhân vì đều có đăng kí kinh doanh. Còn thương nhân thì chưa chắc đã là doanh nghiệp. Một số thương nhân không phải là doanh nghiệp như hộ kinh doanh, hợp tác xã - Các chủ thể kinh doanh phải được thành lập và đăng ký hợp pháp: theo đặc điểm này chủ thể kinh doanh là các loại hình doanh nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, cho phép thành lập hoặc hoặc công nhận.Theo đó, các chủ thể kinh doanh được sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp cùng với hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác và hợp tác xã. Đối với các chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài việc thành lập phải tuân thủ những trình tự thủ tục được qui định trong các văn bản qui phạm pháp luật tương ứng đang có hiệu lực.
Đặc điểm đăng ký kinh doanh của các chủ thể xác lập tư cách chủ thể pháp lý độc lập của các chủ thể kinh doanh, làm cơ sở để nhà nước thừa nhận và bảo vệ trước pháp luật. - Các chủ thể kinh doanh khi tham gia vào hoạt động kinh doanh trên thị trường luôn có tính liên quan và hổ trợ nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội, sự hở trợ này thực chấp là cung cấp sản phẩm cho xã hội thể hiện nhu cầu về tiền vốn, về sức lao động sản xuất, có thể thấy hoạt động kinh doanh của chủ thể kinh doanh này có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của chủ thể khác, mặt khác, các 3 Điều 3 luật thương mại năm 2005 9 chủ thể kinh doanh tham gia hoạt động trên thị trường để có thể tồn tại và phát triển các chủ thể kinh doanh luôn có tính đối kháng với các tác động từ bên ngoài: khủng hoảng tài chính tiền tệ, thiên tai hỏa hoạn, chính sách quản lý kinh tế của nhà nước Biểu hiện của tính đối kháng là chủ thể kinh doanh phải dựa vào chính bản thân mình để tiếp thu vật chất từ hoàn cảnh thị trường, năng động nhạy bén thông tin, cHển hóa tình huống trong kinh doanh, khắc phục những khó khăn để tồn tại trên thị trường. Từ những đặc điểm trên có thể thấy chủ thể kinh doanh tồn tại dưới nhiều hình thức và hoạt động trên tất cả các lĩnh vực trong xã hội.Tuy không được thể hiện rõ về mặt pháp lý hay được qui định rõ bằng một điều khoản cụ thể nào của luật nhưng cụ thể chủ thể trong kinh doanh có thể hiểu là hành vi kinh doanh của chủ thể kinh doanh và có những đặc điểm đã phân tích như trên.2 Các hình thức của hoạt động thương mại. Hai lĩnh vực chủ yếu của hoạt động thương mại là thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ – Mua bán hàng hoá (Thương mại hàng hóa) là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, cHển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận (K8 Đ3 Luật thương mại)4 – Cung ứng dịch vụ (Thương mại dịch vụ) là hoạt động thương mại, theo đó một bên (gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận (K9 Đ3 Luật thương mại)5 Đối với hoạt động mua bán hàng hóa, có những thương nhân cHên kinh doanh mua bán hàng hóa và có những thương nhân đồng thời là nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ.
Vì vậy, pháp luật thương mại cũng có một số nội dung liên quan đến quá 4 Điều 3 luật thương mại năm 2005 5 Điều 3 Luật thương mại 2005 10 trình đầu tư sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ như tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ.3 Tranh chấp trong kinh doanh thương mại. Quan hệ giữa người với người trong xã hội tự nó luôn tiềm ẩn những bất đồng mâu thuẫn xung đột, bởi thế tranh chấp là một hiện tượng phổ biến có tính khách quan,kinh doanh thương mại cũng là một trong những quan hệ xã hội nên các mối quan hệ trong kinh doanh luôn tồn tại các dạng xung đột là hiện tượng không ngoại lệ. Nền kinh tế thị trường với xu hướng hội nhập quốc tế với sự tác động khắc nghiệt của các qui luật cạnh tranh, qui luật về giá trị cùng với sự khác biệt về văn hóa trình độ hiểu biết của các chủ thể kinh doanh đặc điểm này hình thành nên các xung đột mâu thuẫn ngày càng đa dạng và tính chất ngày càng phức tạp tác động không nhỏ đến các chủ thể trong kinh doanh thương mại. Một nhu cầu pháp lý thiết yếu đặt ra là phải có một cơ chế giải quyết tranh chấp, giải quyết xung đột trong kinh doanh thương mại.
Theo luật thương mại 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác.