Chương 1: Lý luận về tranh tụng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án 1. Khái quát về kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại Khái niệm về tranh chấp kinh doanh, thương mại Theo Từ điển Tiếng Việt (1992), tranh chấp là sự tranh đấu, giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên. Dưới góc độ pháp lý, căn cứ vào tính chất của các quan hệ pháp luật, có thể phân loại tranh chấp thành tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh doanh thương mại, tranh chấp lao động,.
Tranh chấp trong kinh doanh thương mại là một khái niệm tưởng chừng rất đơn giản, nhưng thực ra cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất. Luật Thương mại 2005 là luật chuyên ngành điều chỉnh quan hệ thương mại giữa thương nhân, nhưng cũng không hề có quy định cụ thể nào về tranh chấp kinh doanh, thương mại. Do đó, việc xác định chính xác thế nào là tranh chấp trong kinh doanh, thương mại hiện rất khó vì nó được nằm tản mạn trong các văn bản pháp luật. Khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS) quy định: “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”, Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Toà án nhân dân tối cao lại hướng dẫn Toà Kinh tế có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại điều 29 BLTTDS; các tranh chấp kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận1.
Nhìn chung, tranh chấp kinh doanh, thương mại có thể hiểu là những xung đột, bất đồng về quyền, lợi ích kinh tế giữa các chủ thể trong quá trình xác lập và giải quyết các quan hệ kinh doanh, thương mại. Tranh chấp kinh doanh, thương mại trong nền kinh tế thị trường đã phát sinh nhiều dạng tranh chấp mới, có những biểu hiện đa dạng về nội dung và mức độ khác nhau như: tranh chấp giữa thành viên Công ty với Công ty; tranh chấp giữa thành viên Công ty với nhau trong quá trình thành lập, hoạt động và giải thể Công ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán các loại cổ phiếu, trái phiếu; tranh chấp trong các lĩnh vực 1 Điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số:03/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sữa đổi, bổ sung theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. 7 quảng cáo, bảo hiểm, kế toán, tư vấn, giám định; tranh chấp liên quan đến hối phiếu và séc; tranh chấp liên quan đến việc bảo hộ bí mật thương mại. Để phát triển nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải đề cao quyền tự do kinh doanh của công dân, điều đó sẽ tạo động lực cho thương nhân ra đời và phát triển, tạo mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các thương nhân cũng ngày càng đa dạng và phong phú hơn nên tất yếu tranh chấp phát sinh giữa họ cũng tăng thêm.
Dù tồn tại dưới hình thức nào và bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan hay chủ quan thì đặc trưng chung của tranh chấp kinh doanh, thương mại là luôn gắn với hoạt động kinh doanh và chủ thể tham gia chủ yếu là các cá nhân, đơn vị kinh doanh. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia vào quan hệ kinh tế đó. Vì vậy: Tranh chấp kinh doanh, thương mại là những bất đồng, những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại hoặc các hoạt động kinh tế khác được pháp luật quy định là tranh chấp kinh tế, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế. Đặc điểm tranh chấp kinh doanh, thương mại So với các tranh chấp trong lĩnh vực xã hội khác nhau như lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình, tranh chấp kinh doanh, thương mại có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, nội dung các tranh chấp luôn là những mâu thuẫn về các lợi ích kinh tế, bởi vì mục đích của các chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh, thương mại là tìm kiếm lợi nhuận, người kinh doanh mong muốn đạt được sau quá trình đầu tư chính là tài sản.
Thứ hai, chủ thể làm phát sinh tranh chấp là người kinh doanh. Những người kinh doanh có tâm lý mong muốn xác định quan hệ ổn định, lâu dài trên cơ sở hợp tác, tin cậy lẫn nhau. Mỗi bên đều có mục đích tối đa lợi ích kinh tế khi tham gia các quan hệ kinh doanh và trong quan hệ này, nghĩa vụ của chủ thể này là quyền tương ứng của chủ thể kia. Vì thế, các tranh chấp phát sinh sẽ đe dọa, ảnh hưởng xấu đến mục đích và hiệu quả hoạt động của các doanh nhân trong điều kiện lợi ích kinh tế của các bên phụ thuộc, ảnh hưởng lẫn nhau.
Thứ ba, những tranh chấp kinh doanh, thương mại phát triển gắn liền với các hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh vốn rất đa dạng, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật và yếu tố riêng của thị trường, chẳng hạn như quy luật cung cầu, sự biến đổi quy luật của giá cả. 8 Thứ tư, tranh chấp kinh doanh, thương mại thường là những tranh chấp mang yếu tố vật chất và có giá trị lớn, việc giải quyết tranh chấp này là vấn đề mà các bên tranh chấp có quyền lựa chọn. Khái quát tranh tụng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại 1.
Khái niệm về tranh tụng Việt Nam, có thể xem xét tranh tụng trên các bình diện dưới đây: - Về mặt lập pháp: khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được ban hành từ năm 1945 đến nay. - Về mặt ngôn ngữ: theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng”; còn theo Hán-Việt từ điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”. Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ kiện dân sự theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. - Về mặt lý luận: Xung quanh khái niệm tranh tụng có nhiều quan điểm khác nhau.
Đặc điểm tranh tụng trong tố tụng o Trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên tham gia tố tụng, Tòa án không có nghĩa vụ điều tra. o Các hành vi tố tụng của các chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng tuân theo trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định. o Quá trình tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành một cách công khai, trực tiếp và bằng lời nói. o Các chủ thể tham gia tranh tụng được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
o Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa Thẩm phán đóng vai trò là người trọng tài để phân xử giữa hai bên tham gia tranh tụng. Mục tiêu và sự tác động của tranh tụng trong hoạt động tố tụng ✓ Mục tiêu: Xác định rõ nội dung, phạm vi, phương thức thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự để phát huy sự tham gia tích cực và hiệu quả của người tham 9 gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự; đảm bảo phán quyết của Tòa án chính xác, đúng pháp luật trên cơ sở kết quả tranh tụng của các bên trong vụ án về chứng cứ, pháp luật áp dụng và quan điểm giải quyết vụ án. Sự tác động: Phát huy những ưu điểm của tố tụng thẩm vấn kết hợp tiếp thu những yếu tố hợp lý, tiến bộ của mô hình tố tụng tranh tụng phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, nhằm nâng cao tính dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch. Trong tố tụng dân sự, nguyên tắc tranh tụng phải được thể hiện ngay từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc xét xử, để duy trì những nội dung hợp lý của mô hình tố tụng dân sự, cần xác định rõ trách nhiệm chứng minh thuộc về các bên tham gia tố tụng, Tòa án chỉ có nghĩa vụ thu thập chứng cứ và xét hỏi khi cần thiết; trong quá trình tố tụng các chứng cứ phải được công khai.
Kết hợp những yếu tố hợp lý của mô hình tố tụng xét hỏi và mô hình tố tụng tranh tụng, góp phần đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch trong quá trình tố tụng; xác định rõ và nâng cao trách nhiệm của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án; từ đó chất lượng giải quyết xét xử các vụ án dân sự đạt hiệu quả cao hơn… 1. Vai trò của tranh tụng trong tố tụng 1. Vai trò của tranh tụng trong tố tụng nói chung Sự ra đời và phát triển của khái niệm tranh tụng trong tố tụng gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ, tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần, mà cao hơn nó là thành tựu của sự phát triển tư tưởng, của nền văn minh nhân loại.
Đây là cơ chế tố tụng có hiệu quả bảo đảm cho Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án, giải quyết đúng đắn vụ việc, đảm bảo sự công bằng, bảo vệ các quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng. Tranh tụng là tranh luận trong tố tụng. Trong tố tụng bao giờ cũng có sự tham gia của các bên có quyền và lợi ích trái ngược nhau yêu cầu Tòa án phân xử. Để có cơ sở cho Tòa án có thể phân xử, pháp luật quy định cho các bên tham gia tố tụng quyền khởi kiện vụ việc ra trước Tòa án, chứng minh và tranh luận để bảo vệ yêu cầu của mình.
Xét xử dân sự là hoạt động phân xử vụ kiện giữa các bên có quyền và lợi ích khác nhau.