Chương 1. Một sé van đẻ chung vẻ hoa giải thương mai và pháp luật hoa giãi thương mai Chương 2. Thực trang pháp luật hoa giãi thương mai ở Việt Nam va thực tiễn thi hành. Hoan thiên pháp luật và nâng cao hiệu qua thi hảnh pháp luật về hoà giãi thương mại ở Việt Nam.
MỘT SỐ VAN DE CHUNG VE HOÀ GIẢI. THUONG MẠI VÀ PHÁP LUẬT HOA GIẢI THƯƠNG MẠI. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoà giải thương mại 1. Khái niệm tranh chấp throng mai Tranh chấp thương mại được hiểu là các ung đột, mâu th , bất đồng, về quyển và lợi ích phát sinh trong quá trình các bên thực hiện các hoạt động thương mại của mình.
Hoạt đông thương mại được liết k tai khoản 1 Điều 3 Luật Thương, mại năm 2005 như sau: “Hoat động ương mại là hoat đông nhằm nme dich sinh lời, bao mua ban hàng hoá, cung ứng dich vụ, te xúc tiển thương mại và các hoạt động nhằm muc dich sinh lợi khác 1" Từ định nghĩa nêu trên, co th tranh chấp thương mai lê những mâu thuẫn (bat đồng hay xung đột) về quyền va nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi. Quá trình giải quyết tranh chấp phải đảm bao được các điều kiện sau: Thứ nhất, thời gian thực hiên giải quyết nhanh chóng, đi kèm la thi tục đơn giản, gọn nhẹ để các bên có thể tiếp tục quá trình kinh doanh của minh, không bị đỉnh trệ bối thời gian giải quyết kéo dài, tránh việc gây tốn that cho các tên Thứ hai, chi phí giãi quyết tranh chấp không được qua cao, bởi mỗi quan tâm hang đâu của các chủ thể kinh doanh là lợi nhuận, họ không thể chấp nhận một cơ chế giai quyết tranh chấp ma chi phí quá tn kém. Thư ba, cơ ché giải quyết tranh chap phải đảm bảo giữ được bi mật kinh doanh của các thương nhân, không để những thông tin trong quá trình. giải quyết bị tiết lô ra ngoài, gây ảnh hưởng đến các bên Ehoän1 Điều 3 Luật Thương mại nấm 2005 That tie, duy trì được mỗi quan hệ ban hang tin tưởng, thân thiết, đối tac lâu dai giữa các bên tranh chấp.
Những yêu cầu nói trên cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc giải quyết tranh chấp nói chung Tuy nhiên, trong gidi quyết các tranh chấp kinh doanh: thương mai, các yêu cầu này phải được dap ứng ở mức độ cao hơn, do các đặc trưng của các quan hệ kinh doanh thương mai. Khái niệm hoà giãi Thuật ngữ “Hoa gidi” đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người. No được sử dụng để miêu tả hoạt động dàn xếp những xung đột giữa các bên, có thể là giữa tổ chức, cá nhân với nhau hoặc thậm chí có tí là giữa các nhóm lợi ích, giữa các công đồng dân cư hoặc thâm chi giữa các quốc gia có chủ quyền Trong cuốn Blacks Law Dictionary, hoa giải (conciliation) được định nghĩa là “Ste can thiệp, sue làm trừng giam hoà giải, hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ. Việc giải quyết tranh chấp thông qua người trưng gian hoà giải (bên trung lập)” Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiêu khai niệm về hoà giải.
Theo Từ điển Tiếng việt của Trung tâm ngôn ngữ va Văn hoa Việt Nam ~ Viện Khoa hoc xã hội xuất ban năm 2006, khái niệm hoa giải được điễn giải là “tap ét phe các bên đồng ý chẩm đứt xung đột hoặc xích mich một cách dn thod”. Hoa giải là “giải quyết các tranh chấp, bắt đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc dàn xếp, thương lương với nhan cô sự tham gia của bên tint ba (không phải là bên tranh chấp)" > Black's Law Dictionary with pronounciation, West Pub Co (1983) > Nguyễn Duy Lam, Nguyễn Thành chủ biên, Thuật ngữ pháp lý ding trong hoạt đồng của Qhốc hội và Hội đồng nhân dân, NXB Sự that, Hà Nội, 2004, tr 27 10 Trong khi hoa gidi, hỏa giải viên đóng vai trò bên thứ ba trung gian, không di sâu vào những xung đột, hiểm khich của các bên. Hoa giải viên chỉ khuyến khích và hỗ trợ các bên tìm ra "lỗi di” mang tính thực tế ma tắt cả các ‘bén déu chấp nhân sau khi nghiên cứu những lợi ich va nhu câu của ho Có hai khái niệm được xuất hiên trên thể giới la: trung gian (mediation) ‘va hoà giai (conciliation) là những biện pháp giải quyết tranh chấp ma các bên cũng đảm phán để tim kiêm giải pháp cho xung đốt cia họ với su hỗ trợ cia một bên thứ ba trung lập. Cả hai cách thức giải quyết tranh chấp này đều đôi hỏi các bên nghiêm túc, bảo mat, có khả năng kiểm soát sự việc và kết quả trong suốt quá trình giải quyết tranh chap.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa trung. gian va hoà giải là ở vai trò của bên thử ba vả thủ tục tiến hảnh giãi quyết tranh chap* Cụ thể = Về vai trò của bên thie ba: G phương thức trung gian, người trung gian có vai trỏ hỗ trợ, tạo điều. kiện cho các bên để các bên hiểu van dé xung đột giữa họ, xác định quyên lợi mã mỗi bên hướng tới và tim kiếm một giải pháp hai hoa. Các bén tranh chấp đóng vai trò chính còn người trung gian hoa giải đóng vai trò hỗ trợ.
Trong hoạt đông hoa giải, hoà gidi viến can thiệp sâu hơn trong việc. giải thích các khía cạnh pháp lý của các vẫn để, những lời khuyên với các bên và dé xuất giải pháp, - VỀ quy trình: Phương thức hoa giải thường được tiền hành theo quy trình không chất chế và bai ban như phương thức trung gian. Ví du, trong khi hoà giải, hoa giải viên thường gắp riêng các bê con đối với cách thức trung gian, quả trình sẽ nhanh gon hơn, người trung gian một la sé gặp cả hai bền cùng lúc, hai là gặp từng bên để giải quyết. ` Hoà giải một cơ chế gii quyết tanh chip kinh doanh, thương mại quốc t, Tap chi Luật quốc tế Fordham (14) (2003), tr 584- 85 u “Xét vẻ lý luận, tuy rằng đây là hai phương thức giải quyết khác nhau.
nhưng trong hoạt đông nghiên cứu, việc tách biệt rõ ràng giữa hai phương thức nay khá là mơ hổ. Trong đa số các trường hợp, thuật ngữ trung gian va hoa giải được sử dụng hoán đổi cho nhau ma it có sự phân biệt”. Xet vẻ đặc điểm pháp lý của hai phương thức này cũng không có sự rố rang. Một số các nước như Trùng Quốc, Hàn Quốc, Anh.
trên thực tế déu thưc hiện cả hai phương thức nay để giải quyết tranh. ap thay thé cho tư pháp. Luật mẫu về hoa giải của. UNCITRAL cũng không phân biết trung gian hoa giải và hoà giải ~ Về các đặc trưng cơ ban của hòa giải: Thứ nHất, sự xuất hiện của bên thứ ba đứng ra làm trung gian là bất buộc.
Mục dich giúp các bên giải quyết tranh chấp mét cảch công bằng, độc lập, khách quan, cu thể bênthứ ba nay sẽ là các hòa giải viên. Thứ hai, hoà giải thường là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tự nguyên, trừ một số trường hợp hoà giải bất bude tuỷ thuộc dạng tranh chấp và quy định của pháp luật. Tinh chất tự nguyên thể hiện việc: (1) các ‘bén có quyên lựa chon việc có hay không giãi quyết tranh chap bằng hòa giãi, (2) các bên có quyển để xuất quy trình hoa giãi dé hoà giai viên tiên hành cho phù hop với yêu cầu của minh; (3) các bên có quyển quyết định đi đến cing kết thúc quá trinh hoà giải hoặc ngừng tham gia hòa giải ở bat ki thời điểm. ảo nêu thay phương thức nảy không hiệu quả hoặc các bên muỗn giãi quyết bằng phương thức khác.
Thứ ba, hoà giải dé cao sự thân thiện, tôn trọng lẫn nhau. Theo đó, hoa giải viên không đi sâu vào những bat dng xy ra trước đấy, mã đất lợi ich của các bén lên hing đầu. Điều nay sẽ giúp viéc giải quyết tranh chấp bớt căng thẳng hơn so với việc giải quyết bằng kiện tụng, khi đó thẩm phán sẽ chỉ °Trung gian trong giải quyết thương mai quốc tổ: cách tiếp cận khác biệt giữa Mỹ và Châu Au, Tạp chí giải quyết tranh chấp, nắm 2005, (62), tr. 65 1 để ý đến các điều luật điều chỉnh mối quan hệ cu thể, đền các hảnh vi đúng, sai của các biên Thứ te hoà giải có thé là một qua trình độc lap hoặc là mét bước trong quá trình tổ tụng tại toa án hoặc trong tải ‘Tuy nhiên đến hiện nay van chưa có cơ chế để thi hanh các thoả thuận.
hoả giải thành trong tổ tung trong tai. Do vậy, khi các đương sự đạt được hoa giải với nhau thì thông thường ho sẽ làm thủ tục rút lại đơn kiện tại trong tải Nếu không thì các trong tải sẽ đưa các nội dung hoa giai đó vào trong phản quyết trọng tài để đâm bảo rằng chúng sẽ được thực thi. Thứ uăn hoà giải không tất buộc phải tiên hảnh công khai. Trong qua trình hoa giải, các bên cam kết không được tiết lô bat cứ thông tin nào.
thên hoa giải viên cũng phải cam kết giữ bí mật tất cả những thông tin do các ‘bén cũng cấp trong quá trình hoa giải. Nêu việc hoa giải không thảnh và các ‘bén phải sử dung trong tải hay toa án để tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp thì các bên cũng không được yêu cẩu triệu tập hoà giải viên với tư cách nhân chứng cho vụ tranh chấp, cũng như các thông tin trong quả trình hỏa giải sẽ không trở thành bằng chứng chồng lại một trong các bên. Thi sáu, các bên hoàn toàn có quyển sử dung các phương thức giải quyết tranh chấp khác, có thể tiên hành hoa giải song song với quá trình tổ tung trong tai hay toa án Đây cũng chính 1a một điểm hấp dẫn thể hiện sự lĩnh hoạt của phương thức nảy. Khái niệm về Hoà giải tương mại Hoa giải thương mại đã được đính nghĩa tại Khoản 1 Điền 3 Nghị định 22/2017/NĐ-CP vẻ hòa giải thương mai như sau: “Hoa giải tương mat là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và 3 được hòa giải viên thương mại làm trung gian hòa giải hỗ trợ giải quyết tranh chắp theo quy dinh của Nght định này "Š Cơ sử lý luận và thực tiến của việc hình thành phương thức hoa giãi thương mai bắt nguồn từ quyên tư do kinh doanh, tư do định đoạt trong tắt cả vấn dé phát sinh trong quá trình kinh doanh của các chủ thể trong nên kinh tế thị trường.