Chương 1. Lý luận về sự hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Chương 2. Pháp luật Việt Nam về sự hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Chương 3. Thực tiễn hoạt động hỗ trợ của Tòa án đối với Trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại Việt Nam và một số khuyến nghị.
LY LUAN VE SU HO TRO CUA TOA AN DOI VOI TRONG TAI TRONG GIAI QUYET TRANH CHAP THUONG MAI QUOC TE 1. Khái quát về tranh chap thương mai quốc tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng sâu rộng, phạm vi hoạt động thương mại của cá nhân và tô chức đã mở rộng ra nhiều quốc gia khác nhau, không bị giới hạn bởi các ranh giới lãnh thổ như trước. Bên cạnh đó, hoạt động thương mại còn được mở rộng hơn rất nhiều chứ không chỉ mỗi bao gồm việc trao đổi hàng hóa, trao đổi địch vụ nhằm mục tiêu tối ưu được thật nhiều lợi nhuận như khởi nguồn của nó. Các quốc gia thường có các cách tiếp cận khác nhau đối với thuật ngữ “thương mại quốc tế”, dẫn đến việc không có sự thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ nay.
Dé hiểu rõ hơn về ý nghĩa của “thương mại quốc tế”, cần phải tách ra và giải thích một cách cụ thé các thuật ngữ “thương mai” và “quốc tế” dé lấy đó làm cơ sở nghiên cứu vấn dé tranh chấp thương mại quốc tế. Về khái niệm “thương mại” Theo Luật Mẫu về Trọng tai thương mại quốc tế được Ủy ban về luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) thông qua, khái niệm "thương mại" cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát tất cả các vấn đề nảy sinh từ các mối quan hệ mang tính chất thương mại, bất ké đó là quan hệ hợp đồng hay không. Các mối quan hệ được coi là có bản chất thương mại bao gồm nhiều loại giao dịch đa dạng như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện thương mại, đại lý, bao thanh toán, cho thuê, xây dựng, tư van, chuyển giao công nghệ, cấp phép, dau tư, tài trợ, ngân hang, bao hiểm, các thỏa thuận hợp tác kinh doanh như liên doanh, nhượng quyền thương mại, khai thác, va vận tải hàng hóa, hành khách bằng đường hang không, đường biển, đường sắt, đường bộ. Tuy nhiên, danh sách này không mang tính chất giới hạn, có thê 11 mở rộng cho các loại quan hệ thương mại khác?.
Thuật ngữ này thể hiện một cách tương đối cụ thé và chi tiết khi nó liệt kê được tất cả những quan hệ nào được xem xét là mang bản chất thương mại, nhưng việc xác định nội hàm của thuật ngữ thương mại sẽ được pháp luật của mỗi quốc gia sẽ có quy định riêng biệt. Dù vậy, các quốc gia trên thế giới thường hướng đến việc quy định phạm vi của hoạt động thương mại theo các tiêu chuẩn pháp lý được thiết lập bởi các tổ chức quốc tế lớn hoạt động trong lĩnh vực thương mại. Tựu chung lại, hoạt động thương mại được hiểu rất rộng, bao gồm các lĩnh vực sau: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại. Cách hiểu này được đa số các quốc gia đồng tình và ghi nhận, điều nay thé hiện sự tương thích va sự hòa nhập của các quốc gia vào cộng đồng quốc tế và môi trường thương mại hóa toàn cầu.
Bộ luật Thương mại Cộng hòa Pháp tại Điều L 110-1 đã quy định một số hành vi như mua bán hàng hóa để bán lại, mua bán bất động sản để bán lại, cho thuê tài san,. là hành vi thương mại được thực hiện bởi các thương nhân; tại Điều L 110-2, Bộ luật này bổ sung các hành vi được coi là hành vi thương mại chủ yếu ở trong lĩnh vực hàng hai!®. Những nha xây dựng pháp luật của Nhật Bản tại Điều 263 và Điều 264 của Bộ luật thương mại Nhật Bản cũng liệt kê các giao dịch mà những nhà làm luật, được xem đó là những giao dịch thương mại!!. Luật Thuong mại Việt Nam năm 2005 có quy định rằng “Hoat động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gom mua ban hang hóa, cung ứng dich vụ dau tu, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục ® Bộ Tư pháp-Tổ biên tập dự thảo Nghị định hòa giải thương mại, Báo cáo tổng thuật pháp luật một số nước về hòa gidi thương mại, Hà Nội, 2015, tr.11 19 French Commercial Code https://wipolex-res.int/edocs/lexdocs/laws/en/fr/fr199en.pdf, truy cập ngày 05/12/2023.
1 The Commercial Code of Japan 1899. https:/aw-platform. jp/file/132048d/132048(en), truy cập ngày 05/12/2023. 12 dich sinh lợi khác ”!2.
Pháp luật Việt Nam nhân mạnh rất nhiều vào cum từ “muc dich sinh lợi `, yếu tố nay được coi là nhân tố cơ bản dé xác định các hoạt động cụ thể xem rằng đó có hay không phải là hoạt động thương mại. Mặc dù không có sự giống nhau y hệt giữa các quốc gia trên thế giới trong việc định nghĩa thuật ngữ thương mại nhưng có một điểm chung rất rõ nét, đó là hiện nay các quốc gia đều có tư duy pháp lý về việc định nghĩa “thương mai” theo nghĩa rộng, khi ho đều coi các hoạt động nhằm mục đích sinh lời của thương nhân là hoạt động thương mai. Phạm vi hoạt động thương mại hiện nay được mở rộng bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau chứ không chỉ đơn gián là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa đơn thuần. Về khái niệm “thương mại quốc tẾ” Qua nghiên cứu ở phân 1.1 về khái niệm thương mại, có thể đưa ra được định nghĩa về thương mại quốc tế.
Thuong mại quốc tế được hiểu là những hoạt động thương mại dién ra giữa các bên khác nhau mà sẽ có yếu tổ nước ngoải xuất hiện ở ít nhất một trong các bên. Dựa vào chủ thể và tính chất của quan hệ thương mại, thương mại quốc tế được phân loại thành hai nhóm chính: thương mại quốc tế công và thương mại quốc tế tư. Thương mại quốc tế công là một khái niệm dùng dé chỉ các hoạt động giao thương, trao đôi hàng hóa, dịch vụ diễn ra giữa các chủ thé mang tính chat công, như các quốc gia, vùng lãnh thé, hay các tô chức quốc tế liên chính phủ. Điểm khác biệt cơ bản giữa thương mại quốc tế công với các loại hình thương mại khác chính là sự tham gia tích cực và vai trò then chốt của khu vực công trong việc định hình và triển khai các chính sách thương mại quốc tế.
Cụ thể, các thực thé công đóng vai trò quan trọng trong việc đàm phan, ký kết và gia nhập các điều ước, thỏa thuận thương mại quốc tế, tham gia vào các liên kết, tổ chức kinh tế khu vực và toàn câu, đồng thời xây dựng và thực thi các chính 12 Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005. 13 sách, biện pháp nhằm thúc đây hoạt động thương mại quốc tế. Sự tham gia của khu vực công trong thương mại quốc tế không chỉ thể hiện ở cấp độ vĩ mô thông qua các chính sách, thỏa thuận mang tính định hướng, mà còn được cụ thể hóa bang các cam kết, hành động cụ thê nhằm tạo môi trường pháp lý, thé chế thuận lợi cho các hoạt động giao thương quốc tế!3. Thương mại quốc tế tư là các giao dịch thương mại xảy ra giữa các thương nhân, bao gồm cả cá nhân và tô chức kinh tế, co thé bao gồm cả quốc gia khi tham gia với tư cách là một thương nhân.
Các tiêu chí để định rõ tính “quốc tế” của hoạt động thương mại quốc tế tư có thé bao gồm những yếu tô sau: các bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài; hoặc căn cứ đề thiết lập, điều chỉnh, thực thi hoặc chấm đứt các quan hệ thương mại có nguồn gốc ở nước ngoài; hoặc tài sản là đối tượng của quan hệ thương mại đang ở nước ngoai. Để xác định tính “quốc tế” của hoạt động thương mại, phụ thuộc vào quan điểm của từng học gia, nhà làm luật và hệ thông pháp luật áp dụng, nhưng thực tế cho thay hầu hết pháp luật các quốc gia trên thé giới xác định tính “quốc tế” đều dựa vào những yếu tô nêu trên. Hệ thống pháp luật Việt Nam có rất nhiều văn bản luật liệt kê ra những trường hợp được xem là có tính “quốc tế”, tức là có liên quan đến yêu tố nước ngoải như quy định tại Luật Thuong mại nam 2005 quy định “Mua ban hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu ”14, Về quan hệ dân sự với yếu tố nước ngoài, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nếu vào các trường hợp sau thì quan hệ dân sự đó sẽ được coi là quan hệ dân sự có yêu tố nước ngoài “Có it nhất một bên tham gia là cá nhân hoặc pháp nhân của một quốc gia khác; tat cả các bên tham gia đều là công dân Việt Nam 13 Nguyễn Thị Hoài Thương, Giao dich thương mại quốc tế và các giao dich có liên quan, Hà Nội, 2023. vn/giao-dich-thuong-mai-quoc-te-va-cac-g1a0-dich-co-len-quan, truy cập ngày 9/10/2023 14 Khoản 1 Điều 27 Luật Thương mại năm 2005.
14 hoặc pháp nhân Viét Nam, nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó diễn ra tại nước ngoài; tat cả các bên tham gia đêu là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân Liệt Nam, nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”!Š. Như vay, dé xét một quan hệ dân sự có mang yếu tổ nước ngoài hay không, cần xem xét ba yếu tố đó là chủ thể của quan hệ, đối tượng của quan hệ hoặc sự kiện pháp lý của quan hệ đó. Có thé thấy, tính “quốc té” trong hệ thông pháp luật Việt Nam có sự đa dạng, phong phú khi nó xuất hiện ở trên rất nhiều lĩnh vực; trong đó, lĩnh vực thương mại là một trong những lĩnh vực chủ yếu bởi thực tế hiện nay các quan hệ thương mại quốc tế đang diễn ra ngày cảng sâu rộng. Thương mại quốc tế phát triển mạnh sẽ kéo theo sự phát triển của công nghiệp hóa, giao thông vận tải hay những công ty đa quốc gia.
Sự phát triển của những nhân tố này sẽ là cơ sở đóng góp cho sự tăng trưởng về kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Về khái niệm “tranh chấp thương mại quốc té” Hiện tại có rất nhiều quan điểm, quan niệm, nghiên cứu khác nhau về định nghĩa tranh chấp.