CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về chế tài trong thương mại Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Hợp đồng thương mại - hình thức pháp lý của quan hệ thương mại, là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong quan hệ thương mại.2 Tùy thuộc vào loại hình của hoạt động thương mại mà hợp đồng thương mại có nhiều loại khác nhau như: (i) hợp đồng mua bán hàng hóa đối với quan hệ mua bán hàng hóa; (ii) hợp đồng cung ứng dịch vụ đối với quan hệ của các dịch vụ như dịch vụ logistics, dịch vụ quá cảnh hàng hóa, dịch vụ giám định…; (iii) hợp đồng đại diện cho thương nhân đối với quan hệ đại diện thương mại; hợp đồng môi giới thương mại đối với quan hệ môi giới thương mại; hợp đồng đại lý đối với quan hệ đại lý; hợp đồng gia công đối với quan hệ gia công thương mại… Hiện nay, pháp luật thương mại điều chỉnh đối với hoạt động thương mại, gồm những quy định pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm quy định quy chế thương nhân và điều chỉnh hoạt động thương mại của họ.
3 Trong đó, Luật Thương mại năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2019) (“LTM”) được xem là luật chung điều chỉnh về hoạt động thương mại và các vấn đề quan trọng về hợp đồng thương mại. Đặc biệt, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện tại Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng LTM, 2 Xem: Điều 385 của BLDS 2015. Xem thêm: Trần Kiên - Nguyễn Khắc Thu (2019), Khái niệm hợp đồng và những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 2 và 3. 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, Tập 1, Nxb.
9 thì hợp đồng giữa các bên trong trường hợp này cũng chịu sự điều chỉnh của LTM. Bên cạnh đó, đối với các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại đặc thù, còn chịu sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành. Đặc biệt, với việc Việt Nam gia nhập CISG thì Công ước quốc tế này đã chính thức trở thành một nguồn luật trực tiếp điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân có trụ sở thương mại tại quốc gia khác. Với mục đích sinh lời, các bên trong quan hệ thương mại đi đến xác lập hợp đồng thương mại, chứa đựng các quy tắc hành xử thể hiện thông qua quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể.
Nhưng, khi các bên không tôn trọng thỏa thuận hợp đồng đến mức vi phạm hợp đồng thì bên bi phạm phải gánh chịu các hậu quả bất lợi cho hành vi vi phạm hợp đồng của mình. Tùy thuộc vào quan điểm lập pháp của từng quốc gia, khu vực mà việc sử dụng thuật ngữ khác nhau đối với trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm hợp đồng. Trong hệ thống Civil law, hệ thống Common law và các văn bản pháp lý quốc tế về luật hợp đồng quan trọng như CISG, Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (UPICC) và Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (PECL), các thuật ngữ có thể sử dụng để chỉ đến các biện pháp pháp lý nhằm khắc phục tình trạng không thực hiện đúng hợp đồng/ vi phạm hợp đồng gồm: “remedies for breach of contract/non-performance” (biện pháp khắc phục do vi phạm hợp đồng/không thực hiện hợp đồng) viết tắt là “remedies”, “les sanctions civiles” (các chế tài đối với vi phạm hợp đồng) viết tắt là “sanctions” hay “moyens contractuelle ouverts d’en cas d’inexécution” (các biện pháp khắc phục do không thực hiện hợp đồng) viết tắt là “moyens”.4 Pháp luật thương mại Việt Nam hiện hành sử dụng thuật ngữ chế tài trong thương mại, khái niệm này cũng có nội hàm tương tự khái niệm biện pháp khắc phục do vi phạm hợp đồng hoặc trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng. Theo đó, chế tài trong thương mại là các biện pháp pháp lý mà pháp luật thương mại cho 4 Bùi Thị Thanh Hằng (2018), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
10 phép một bên trong hợp đồng thương mại áp dụng đối với bên kia nhằm yêu cầu bên đó chịu trách nhiệm pháp lý cho hành vi vi phạm hợp đồng của mình.5 Trên cơ sở định nghĩa khái niệm này, chế tài trong thương mại trong truyền thống pháp lý Việt Nam hiện hành mang những đặc trưng pháp lý quan trọng sau: Thứ nhất, chủ thể áp dụng chế tài trong thương mại là các bên của hợp đồng Hợp đồng thương mại là cơ sở làm phát sinh quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong quan hệ thương mại. Khi một bên vi phạm hợp đồng và đáp ứng đủ điều kiện áp dụng chế tài, bên kia của hợp đồng có quyền áp dụng áp dụng chế tài đối với bên bi phạm. Tất nhiên trong thực tiễn, có nhiều hành vi vi phạm hợp đồng của một bên nhưng chưa đến mức làm cho bên kia bị ảnh hưởng hoặc tổn thất nặng nề thì bên bị vi phạm có thể không áp dụng chế tài đối với bên vi phạm hợp đồng. Đây chính là điểm khác biệt của chế tài trong thương mại so với chế tài hành chính và chế tài hình sự.
Bởi lẽ, chế tài trong thương mại là chế tài giữa các thương nhân, được áp dụng dựa trên ý chí của bên bị vi phạm (có thể áp dụng hoặc không áp dụng); còn chế tài hành chính và chế tài hình sự là chế tài giữa Nhà nước với các tổ chức, cá nhân trong quản lý xã hội, mang tính bắt buộc khi Nhà nước (thông qua cơ quan, cá nhân có thẩm quyền) có đầy đủ căn cứ áp dụng chế tài. Thứ hai, cơ sở phát sinh chế tài trong thương mại là có hành vi vi phạm hợp đồng. Trong thương mại, vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật hợp đồng.6 Vi phạm hợp đồng không chỉ giới hạn ở các thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, mà còn bao gồm cả vi phạm quy định của pháp luật đang có hiệu lực điều chỉnh đối với quan hệ hợp đồng đó. Đối với một số chế tài, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, LTM quy định phải có hành vi vi phạm cơ bản hợp đồng mới được áp dụng chế tài, như chế tài tạm 5 Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 6 Khoản 12 Điều 3 LTM. 11 ngừng thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng…7 Trong hợp đồng dân sự, vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ (khoản 1 Điều 351 BLDS 2015).
So với hợp đồng thương mại, “vi phạm nghĩa vụ” hay vi phạm hợp đồng dân sự theo quy định của BLDS 2015 thiếu tính khái quát, bỏ sót ít nhất trường hợp “không thực hiện nghĩa vụ”.8 Mặc dù vậy, pháp luật hợp đồng thương mại tồn tại nguyên tắc công bằng, cho nên bên vi phạm hợp đồng có thể được miễn trách nhiệm trong một số trường hợp. Trong một số hoàn cảnh hợp đồng, các bên khó có thể lường trước hoặc khắc phục được các trở ngại mang tính khách quan hoặc chủ quan, vì vậy nếu buộc bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm hợp đồng thì sẽ không công bằng cho bên vi phạm. Các trường hợp được xem xét việc miễn trách nhiệm gồm: (i) xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng; (ii) xảy ra sự kiện bất khả kháng; (iii) hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; (iv) hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Để được miễn trách nhiệm theo các trường hợp trên thì bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.9 Thứ ba, chế tài trong thương mại có nhiều loại khác nhau và có thể áp dụng đồng thời nhiều chế tài đối với một hành vi vi phạm hợp đồng.
Trong thương mại có nhiều loại chế tài khác nhau gồm: (i) buộc thực hiện đúng hợp đồng; (ii) phạt vi phạm; (iii) buộc BTTH; (iv) tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (v) đình chỉ thực hiện hợp đồng; (vi) huỷ bỏ hợp đồng. Ngoài ra, LTM còn cho phép áp dụng các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và 7 Theo khoản 13 Điều 3 LTM, vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. 8 Phan Huy Hồng (2018), Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015, tr. 59- 80, trong: Bộ Tư pháp - Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Pháp luật về hợp đồng, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội. 12 tập quán thương mại quốc tế. Việc đa dạng hóa các biện pháp chế tài trong thương mại sẽ tạo nên sự linh hoạt cho việc đám phán, ký kết hợp đồng thương mại cho các bên và bảo đảm tính phù hợp của chế tài đối với hành vi vi phạm hợp đồng cụ thể. Ngoài ra, pháp luật thương mại cho phép bên bị vi phạm có thể áp dụng đồng thời nhiều chế tài đối với một hành vi vi phạm hợp đồng.
Quyền hạn này tạo nên tính cân bằng cho bên bị vi phạm, làm cho hành vi vi phạm hợp đồng trở nên vô hại (tương đối) trong mối quan hệ hợp đồng với bên vi phạm.