Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN GÓP VỐN VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI SẢN GÓP VỐN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP CÔNG TY TNHH 1.1 Vốn góp, nghĩa vụ góp vốn, tài sản góp vốn và hình thức góp vốn của thành viên công ty TNHH 1.1 Vốn góp, nghĩa vụ góp vốn của thành viên công ty Có nhiều quan niệm khác nhau về vốn, vốn góp. Thời Các Mác, khi nhìn nhận dưới giác độ của các yếu tố sản xuất, ông cho rằng “vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Sau này, có quan niệm coi vốn trong doanh nghiệp là một “quỹ tiền tệ đặc biệt”, với mục tiêu phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, tức là mục đích tích lũy chứ không phải mục đích tiêu dùng như những quỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp. Quan điểm gần đây hơn thì coi vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận.
Nghĩa vụ nói chung, là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác. Nghĩa vụ dân sự, theo nghĩa chung, được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các bên tham gia bình đẳng với nhau về mặt pháp lý, các quyền và nghĩa vụ dân sự hợp pháp của các bên, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người thứ ba đều được pháp luật đảm bảo thực hiện. Pháp luật dân sự hiện hành của Việt Nam cũng tương đồng khi xác định nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (bên có quyền) [15] [16]. Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty.
Bản chất pháp lý của góp vốn là hành vi pháp lý làm chấm dứt quyền sở hữu tài sản của 6 người góp vốn, làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của công ty và tạo lập ra công ty, một thực thể kinh doanh thuộc sở hữu của người góp vốn hoặc thuộc sở hữu chung của những người góp vốn. Một bản chất pháp lý quan trọng khác trong góp vốn thành lập công ty TNHH là chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với công ty, nhằm đảm bảo việc các thành viên khi góp vốn vào công ty để kinh doanh chỉ phải chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Phần vốn góp là tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn; tỉ lệ phần vốn góp là tỷ lệ giữa phần vốn góp của một thành viên và vốn điều lệ của công ty. Như vậy, bên cạnh quyền tự do, tự nguyện thỏa thuận với nhau việc khởi nghiệp, thành lập công ty, có thể hiểu nghĩa vụ góp vốn là trách nhiệm của thành viên phải thực hiện đối với công ty để trở thành thành viên chính thức của công ty, xác lập đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình đối với công ty như được chia lợi nhuận trên tỉ lệ phần trăm vốn góp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, lỗ và trách nhiệm khác trên phần trăm tỉ lệ vốn góp, được tham gia biểu quyết các vấn đề của công ty, điều hành công ty liên quan đến hoạt động thương mại và các hoạt động khác của công ty.
Có nhiều loại vốn như vốn điều lệ, vốn pháp định, vốn có quyền biểu quyết, vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu/vốn tự có, vốn kinh doanh… Góp vốn thành lập công ty dựa trên cơ sở tự nguyện, tự do ý chí của các chủ thể, không do sự áp đặt ý chí của tổ chức, cá nhân nào hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình. Việc đưa tài sản của chính mình vào tạo nên chủ thể kinh doanh mới để tự mình hoặc cùng những người khác kinh doanh xuất phát từ ý định của bản thân người góp vốn. Thành viên góp vốn tự nguyện tìm đến và lựa chọn các thành viên khác là đối tác cùng họ kinh doanh và quan trọng là tự mình quyết định việc bỏ vốn để “hùn hạp” với những người khác. Pháp luật yêu cầu người góp vốn phải là chủ sở hữu của tài sản đưa vào công ty, chỉ khi có sự tự nguyện thì việc 7 chuyển giao tài sản này mới được coi là hợp pháp bởi được thực hiện trên cơ sở ý chí của chính chủ sở hữu mà không phải do hành vi nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe dọa.
Xét về quá trình, góp vốn trước tiên là hành vi cam kết giữa những người cùng góp vốn, cũng là một dạng của hợp đồng và trong thực tế hình thức tồn tại của cam kết là hợp đồng góp vốn giữa các thành viên. Kế đến là việc đưa tài sản vào công ty, thực chất đây là hoạt động thực hiện nghĩa vụ theo cam kết ban đầu. Như vậy, góp vốn xuất phát từ giao kết hợp đồng của những người góp vốn, hợp đồng này chỉ có giá trị khi nó được các bên tự nguyện ký kết, thực hiện. Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự nói chung là trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào; cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận [15] [16].
Là một quan hệ dân sự, liên quan đến việc thành lập công ty, tự nguyện trở thành nguyên tắc, tiêu chí cơ bản trong quan hệ góp vốn. Vốn góp xuất phát từ hợp đồng, nên các bên tham gia quan hệ hợp đồng hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. Mỗi thành viên góp vốn đều có quyền và có nghĩa vụ. Điều này thể hiện ở chỗ khi cam kết các bên đều có quyền đưa ra những yêu cầu của mình và đều có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của bên kia, không bên nào có quyền ép buộc bên nào.
Khi cam kết đã được hình thành thì các thành viên góp vốn phải thực hiện đúng những điều đã cam kết, thành viên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì đều phải chịu trách nhiệm mà không có sự phân biệt, ưu tiên hay giảm trách nhiệm cho riêng một thành viên nào. Bình đẳng trong việc góp vốn là không có việc người này được thay đổi loại tài sản đem góp, được kéo dài thời hạn góp vốn, hưởng quyền lợi dành cho người có tư cách thành viên công ty còn những người khác thì không được. Việc góp vốn thành lập công ty hình thành nên tư cách thành viên của người góp vốn, với tư cách này mỗi thành viên được những quyền, lợi ích tương ứng. 8 Hành vi “đưa tài sản vào công ty”, “góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty” có thể là hoạt động trực tiếp đưa tài sản vào công ty hoặc bằng những cách khác như nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế phần vốn góp của thành viên trong công ty.
Hành vi này có thể diễn ra vào thời điểm bắt đầu thành lập công ty hoặc trong quá trình công ty đã đi vào hoạt động. Góp vốn thành lập công ty là hành vi góp vốn hẹp hơn về cách thức thực hiện và thời điểm thực hiện hành vi. Góp vốn thành lập công ty được thực hiện bằng cách trực tiếp đưa tài sản vào, và hoạt động này được thực hiện trước khi công ty được thành lập hoặc trong khoảng thời gian ngắn sau khi công ty đã hình thành. Như vậy, có thể hiểu góp vốn thành lập công ty là hành vi pháp lý của tổ chức, cá nhân diễn ra ở giai đoạn thành lập công ty, nhằm đưa tài sản của mình vào thành tài sản công ty để được hưởng lợi ích nhất định từ công ty được hình thành.
Theo tác giả Nguyễn Thị Liễu Hạnh, với bản chất là hành vi của nhà đầu tư bỏ vốn vào công ty để tìm kiếm lợi nhuận trên tinh thần tự do kinh doanh, tự nguyện giao kết, góp vốn thành lập công ty có một số đặc điểm sau: Một là, hành vi góp vốn thành lập công ty được thực hiện ở thời điểm công ty chưa hình thành, giai đoạn “tiền doanh nghiệp, tiền kinh doanh”. Điều này thể hiện khá rõ ràng và cũng là đặc điểm dễ nhận biết nhất của hành vi góp vốn thành lập công ty. Mục đích mà các chủ thể góp vốn muốn đạt được là hình thành nên chủ thể mới để thông qua đó họ tiến hành kinh doanh và hưởng lợi nhuận, đó chính là công ty, vì vậy hoạt động góp vốn về lý thuyết diễn ra trước khi công ty được thành lập. Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải lúc nào việc góp vốn cũng diễn ra và hoàn tất trước thời điểm công ty được thành lập mà các thành viên đều có thời hạn nhất định để thực hiện việc góp vốn và thời hạn này có thể kéo dài đến sau khi công ty đã ra đời.
Tuy nhiên, điểm thể hiện góp vốn thành lập công ty diễn ra trong giai đoạn “tiền doanh nghiệp” không chỉ ở động thái đưa tài sản vào công ty mà còn là thỏa thuận, cam kết về việc góp vốn để thành lập công ty. 9 Hai là, góp vốn thành lập công ty được thực hiện bằng cách đưa trực tiếp tài sản vào công ty. Cách thức góp vốn trực tiếp là điều khác biệt của hành vi góp vốn thành lập công ty so với góp vốn sau khi công ty đã hình thành. Với cách thức góp vốn trực tiếp thì tài sản góp vốn để thành lập công ty khá đa dạng, có thể là tiền, vàng, giấy tờ có giá, quyền tài sản, công sức, chất xám… Ba là, góp vốn làm thay đổi chủ thể và đối tượng của quyền sở hữu tài sản.
Góp vốn được thực hiện bằng cách đưa tài sản của người góp vốn vào thành tài sản của công ty. Tài sản từ chỗ thuộc quyền sở hữu của người góp vốn chuyển thành thuộc quyền sở hữu của công ty, nhà đầu tư từ chỗ là chủ sở hữu tài sản đem góp vốn trở thành chủ/đồng chủ sở hữu công ty mà cụ thể là chủ sở hữu phần vốn góp. Bốn là, góp vốn làm phát sinh tư cách pháp lý của chủ thể góp vốn.