Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ TRANH CHÁP NỘI BỘ TRONG CÔNG TY CỎ PHẦN 1. KHÁI QUÁT VẺ MÔ HÌNH CÔNG TY CỎ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm công ty cổ phần Trước hết CTCP là một loại doanh nghiệp. Khoản 4 Điều 1 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: "Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế cỏ tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh doanh" [14].
Công ty cổ phần có vốn điều lệ được chia làm nhiều phàn bằng nhau gọi là cổ phần, các thành viên của công ty (cổ đông) sở hữu một hay nhiều cổ phần và hưởng các quyền, chịu các nghĩa vụ trong phạm vi số cổ phần mình nắm giữ, CTCP có quyền phát hành cổ phần rộng rãi trong công chúng để huy động vốn. Mô hình CTCP lần đầu tiên được quy định trong Luật Công ty năm 1990, đến Luật Doanh nghiệp năm 1999 và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp 2005 địa vị pháp lý của loại hình Công ty này mới được hoàn thiện một cách căn bản. Theo quy định tại Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005: 1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cố đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế sổ lượng tối đa; 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agm c) c ổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này [14].
Đặc điểm của mô hình công ty cổ phần Công ty cổ phần có một số đặc điểm cơ bản và đặc trưng như sau: * Trên phương diện pháp lý: Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh, có tư cách pháp nhân độc lập, được hưởng quy chế pháp lý của Nhà nước, độc lập và bình đẳng với các chủ thể khác trước các cơ quan tư pháp. CTCP có vốn kinh doanh do nhiều người đóng góp dưới hình thức cổ phần. Các cổ đông của CTCP hưởng quyền và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp. Trên thực tế, mệnh giá cổ phần của CTCP thường được định giá thấp để có thể huy động được tối đa mọi nguồn vốn trên thị trường và trong công chúng.
* Trên phương diện huy động vốn: Công ty cổ phần có cơ chế huy động vốn rất ưu việt, đây là đặc điểm riêng có của loại hình doanh nghiệp này. Quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của CTCP cho phép doanh nghiệp tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân với số tiền nhỏ nhưng vẫn có cơ hội đầu tư an toàn và có lãi. Việc mua cổ phiếu của CTCP không những đem lại cho cổ đông nguồn cổ tức mà còn hứa hẹn mang đến cho họ một khoản thu nhập nhờ sự tăng giá trị của cổ phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả. Mặt khác, các cổ đông còn có thể tham gia quản lý công ty theo điều lệ của CTCP và được pháp luật bảo đảm; các cổ đông còn được hưởng ưu đãi trong việc mua những cổ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agma phiếu mới phát hành của công ty trước khi công ty phát hành rộng rãi ra công chúng.
Một đặc điểm khác về vốn của CTCP là sự linh hoạt trong việc chuyển nhượng, mua bán những cổ phiếu tự do. Như vậy sẽ không khó cho những cổ đông muốn rút vốn hay tham gia kinh doanh thêm trong CTCP. Việc luân chuyển nguồn vốn trong công ty sẽ được thực hiện nhanh chóng mà không ảnh hưởng nhiều đến tổ chức và hoạt động của công ty. * Trên phương diện sở hữu: Công ty cổ phần là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, chủ sở hữu CTCP là các cổ đông của công ty.
Thông thường, các cổ đông không trực tiếp tham gia vào công việc quản lý, điều hành công ty, mà thông qua một bộ phận nhỏ là Hội đồng quản trị (HĐQT). Các cổ đông hầu hết thực hiện quyền sở hữu của mình thông qua việc nhận cổ tức, tham dự đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) để quyết định các vấn đề mang tính chiến lược của công ty như: thông qua điều lệ của công ty, phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tài chính, bầu cử, ứng cử HĐQT và các chức danh quản lý công ty. Cơ cấu tổ chức và quản trị của công ty cổ phần Điều 95 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: Công ty cố phần có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tong giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng sổ cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát. Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty được quy định tại Điều lệ công ty.
Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú ở Việt Nam; trường hợp vẳng mặt trên ba 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agm mươi ngày ở Việt Nam thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty [ 14]. Có thể mô hình hóa cơ cấu tổ chức của CTCP như sau: 1. Đại hội đồng cổ đông Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có quyền lực cao nhất trong CTCP bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP. Điều 96 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định các các quyền và nhiệm vụ của ĐHĐCĐ như sau: - Thông qua định hướng phát triển của công ty; - Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần, trừ trường họp Điều lệ công ty có quy định khác; 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agma - Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, thành viên Ban kiểm soát; - Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhấtcủa công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác; - Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty, trừ trường hợp điều chỉnh vốn điều lệ do bán thêm cổ phần mới trong phạm vỉ số lượng cổ phần được quyền chào bán quy định tại Điều lệ công ty; - Thông qua báo cáo tài chính hằng năm; - Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại; - Xem xét và xử lý các vi phạm của HĐQT, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty; - Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty; - Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của LuậtDoanh nghiệp và Điều lệ công ty.
Có thể nhận thấy Luật Doanh nghiệp đã ghi nhận ĐHĐCĐ là cơ quan quyền lực cao nhất trong CTCP qua việc quy định cho cơ quan này quyền quyết định những vấn đề trọng yếu, mang tính sống còn của doanh nghiệp. Mặt khác, ĐHĐCĐ là cơ quan tập họp sự có mặt của tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, do đó đây có thể coi là tổ chức của những ông chủ công ty, do vậy những người đầu tư vào công ty có quyền quyết định đối với tài sản của mình là điều tất yếu. Hội đằng quản trị HĐQT do ĐHĐCĐ bầu ra, là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ.