Luận văn: Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ TN&MT

Luận văn phân tích thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ TNMT trong giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng pháp luật và các giải pháp hoàn thiện hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

77
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng

Trong hệ thống quản lý nhà nước, vai trò của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TNMT) là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai - một tài sản nhạy cảm và phức tạp. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TNMT là một cơ chế pháp lý đặc thù, được thiết lập để xử lý những vụ việc phức tạp, có yếu tố đặc biệt mà cấp tỉnh đã giải quyết nhưng chưa nhận được sự đồng thuận từ các bên. Đây là cấp giải quyết cao nhất trong hệ thống hành chính, thể hiện vai trò của cơ quan Trung ương trong việc đảm bảo tính thống nhất và công bằng của pháp luật. Theo quy định tại Luật Đất đai 2013, thẩm quyền này không áp dụng cho mọi loại tranh chấp mà chỉ tập trung vào các trường hợp cụ thể, thường là các vụ việc đã qua giải quyết ở cấp tỉnh nhưng một trong các bên tiếp tục khiếu nại lần hai. Hiểu đúng về khái niệm và bản chất của thẩm quyền này là bước đầu tiên để các tổ chức và cá nhân bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ TNMT mang tính đơn nhất, có nghĩa là Bộ trưởng là người duy nhất ở cấp Trung ương trong hệ thống hành chính có quyền ra quyết định giải quyết tranh chấp cuối cùng. Quyết định này có giá trị thi hành bắt buộc, nếu các bên không tuân thủ sẽ bị cưỡng chế. Việc xác định thẩm quyền này không chỉ phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền mà còn khẳng định vai trò trọng tài của nhà nước trong các mối quan-hệ đất đai, đặc biệt là các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất phức tạp.

1.1. Bản chất pháp lý của thẩm quyền Bộ trưởng Bộ TNMT

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TNMT là quyền hạn do pháp luật quy định, cho phép người đứng đầu Bộ TNMT xem xét và đưa ra phán quyết cuối cùng đối với một số loại tranh chấp đất đai cụ thể. Bản chất của thẩm quyền này là một hoạt động quản lý nhà nước, mang tính quyền lực và bắt buộc thi hành. Nó không phải là một thủ tục tố tụng tại tòa án mà là một quy trình giải quyết hành chính ở cấp cao nhất. Theo luận văn của Nguyễn Thị Thu Hường (2020), thẩm quyền này “là phương thức giải quyết cuối cùng và ở mức độ cao nhất trong hệ thống các cơ quan hành chính về giải quyết tranh chấp đất đai”. Điều này có nghĩa là quyết định của Bộ trưởng có hiệu lực thi hành ngay và các bên liên quan phải chấp hành, trừ trường hợp họ lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng hành chính.

1.2. Phân biệt thẩm quyền của Bộ trưởng và Chủ tịch UBND tỉnh

Sự khác biệt cốt lõi nằm ở cấp độ và đối tượng giải quyết. Thẩm quyền Chủ tịch UBND cấp tỉnh là cấp giải quyết lần đầu đối với các tranh chấp mà một bên là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trong khi đó, thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ TNMT là cấp giải quyết lần hai, chỉ phát sinh khi các bên không đồng ý với quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh và gửi đơn khiếu nại. Về bản chất, Bộ trưởng xem xét lại toàn bộ quá trình và quyết định của cấp tỉnh, chứ không thụ lý vụ việc từ đầu. Quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể bị khiếu nại lên Bộ trưởng, trong khi quyết định giải quyết tranh chấp của Bộ trưởng là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng trong hệ thống hành chính.

II. Các vướng mắc pháp lý khi xác định thẩm quyền của Bộ trưởng

Mặc dù Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn đã quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TNMT, thực tiễn thi hành vẫn còn nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự giao thoa và đôi khi thiếu rõ ràng giữa thủ tục giải quyết tranh chấp hành chính và thủ tục tố tụng tại Tòa án. Người dân và tổ chức thường bối rối trong việc lựa chọn con đường pháp lý: khiếu nại lên Bộ trưởng hay khởi kiện ra Tòa. Luận văn của Nguyễn Thị Thu Hường (2020) chỉ ra rằng: “Pháp luật không chỉ rõ quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là quyết định giải quyết lần đầu hay lần hai”, điều này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau và gây khó khăn cho việc áp dụng. Thêm vào đó, cơ chế phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và chính quyền địa phương trong quá trình thẩm tra, xác minh vụ việc còn chưa thực sự hiệu quả. Việc thu thập hồ sơ, tài liệu từ địa phương đôi khi chậm trễ, ảnh hưởng đến thời hạn giải quyết. Một thách thức khác là việc xác định bản chất của quyết định giải quyết tranh chấp từ Bộ trưởng. Liệu đây có phải là quyết định hành chính cuối cùng và không thể bị khởi kiện hay không vẫn là vấn đề cần được làm rõ hơn trong các văn bản pháp luật, đặc biệt trong bối cảnh Luật Đất đai 2024 sắp có hiệu lực, đòi hỏi sự đồng bộ hóa cao hơn.

2.1. Sự chồng chéo giữa giải quyết hành chính và tố tụng Tòa án

Một vướng mắc phổ biến là tình trạng một vụ tranh chấp ranh giới đất hoặc quyền sử dụng đất vừa được giải quyết tại UBND, vừa được khởi kiện tại Tòa án. Pháp luật cho phép các bên sau khi có quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể lựa chọn khiếu nại lên Bộ trưởng hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân. Sự song song này có thể dẫn đến các kết quả giải quyết khác nhau cho cùng một vụ việc, gây ra sự không ổn định pháp lý và kéo dài thời gian giải quyết, làm tốn kém nguồn lực của các bên và của nhà nước. Cần có quy định rõ ràng hơn về tính ưu tiên hoặc mối quan hệ ràng buộc giữa hai cơ chế này.

2.2. Khó khăn trong thu thập chứng cứ và xác minh thực địa

Đối với các vụ việc tranh chấp đất đai liên tỉnh hoặc các vụ việc phức tạp, việc thẩm tra, xác minh tại địa phương là bắt buộc. Tuy nhiên, đoàn công tác của Bộ TNMT có thể gặp khó khăn trong việc phối hợp với các cơ quan cấp dưới. Hồ sơ địa chính qua các thời kỳ có thể không đầy đủ hoặc không nhất quán. Việc xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, đặc biệt khi các bên không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về lịch sử và phong tục, tập quán địa phương, đây là một thách thức lớn đối với cơ quan giải quyết ở cấp trung ương.

III. Hướng dẫn xác định vụ việc thuộc thẩm quyền Bộ trưởng TNMT

Để áp dụng đúng quy định pháp luật, việc xác định chính xác các trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TNMT là rất quan trọng. Theo Khoản 3, Điều 203 Luật Đất đai 2013, thẩm quyền này được kích hoạt khi hội đủ các điều kiện cụ thể. Trước hết, tranh chấp phải thuộc nhóm đối tượng đặc biệt, không phải là tranh chấp giữa các hộ gia đình, cá nhân thông thường. Thứ hai, vụ việc phải được Chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết lần đầu. Thứ ba, một trong các bên tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh và nộp đơn khiếu nại hợp lệ đến Bộ trưởng Bộ TNMT. Đây là thủ tục khiếu nại lần hai trong hệ thống cơ quan hành chính. Việc xác định đúng đối tượng và trình tự là cơ sở để Bộ TNMT thụ lý hồ sơ. Các loại giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, dù không phải là điều kiện bắt buộc để Bộ trưởng giải quyết (vì thẩm quyền này thường áp dụng cho trường hợp không có giấy tờ), nhưng vẫn là căn cứ quan trọng để đưa ra phán quyết công bằng. Cần lưu ý, việc hòa giải tranh chấp đất đai tại cấp xã là thủ tục bắt buộc trước khi đưa vụ việc lên các cấp cao hơn, kể cả khi tranh chấp liên quan đến các tổ chức lớn.

3.1. Đối tượng tranh chấp đặc thù theo quy định pháp luật

Pháp luật quy định rõ, Bộ trưởng Bộ TNMT chỉ giải quyết khiếu nại đối với các quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Chủ tịch UBND cấp tỉnh khi một bên tranh chấp là tổ chức tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau, sau khi được Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết, nếu không đồng ý thì chỉ có quyền khiếu nại lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện ra Tòa án, không thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng. Việc phân định rõ ràng này giúp giảm tải cho cơ quan Trung ương và đảm bảo tính chuyên môn hóa.

3.2. Điều kiện về việc đã giải quyết tại cấp tỉnh không thành

Điều kiện tiên quyết để Bộ trưởng Bộ TNMT thụ lý là phải có quyết định giải quyết tranh chấp lần đầu của Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Các bên phải chứng minh rằng họ đã trải qua quá trình giải quyết ở cấp tỉnh nhưng không đồng thuận với kết quả. Đơn khiếu nại gửi đến Bộ trưởng phải được nộp trong thời hiệu quy định kể từ ngày nhận được quyết định của cấp tỉnh. Nếu quá thời hạn này mà không có lý do chính đáng, đơn khiếu nại có thể không được chấp nhận. Đây là một quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo tính thứ bậc trong quản lý nhà nước.

IV. Phương pháp giải quyết tranh chấp đất đai tại Bộ TNMT A Z

Quy trình giải quyết một vụ việc tranh chấp đất đai tại Bộ Tài nguyên và Môi trường được thực hiện theo các bước chặt chẽ, đảm bảo tính khách quan và tuân thủ pháp luật. Toàn bộ quy trình này được quy định chi tiết tại Điều 90 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Bắt đầu từ khi nhận được đơn yêu cầu, Bộ trưởng sẽ phân công cho đơn vị chuyên môn, thường là Tổng cục Quản lý Đất đai, để tham mưu giải quyết. Đơn vị này có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, thu thập tài liệu, chứng cứ từ các bên và từ địa phương. Một bước quan trọng trong thủ tục giải quyết tranh chấp là tổ chức hòa giải giữa các bên. Mặc dù đã qua hòa giải ở cấp xã, pháp luật vẫn khuyến khích hòa giải ở cấp cao hơn để giải quyết dứt điểm mâu thuẫn. Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng có thể quyết định thành lập đoàn công tác để tiến hành thẩm tra, xác minh thực địa. Sau khi hoàn tất quá trình thu thập thông tin và xác minh, đơn vị tham mưu sẽ hoàn chỉnh hồ sơ và dự thảo quyết định, trình Bộ trưởng xem xét và ban hành quyết định giải quyết tranh chấp chính thức. Quyết định này sẽ được gửi đến các bên liên quan để thi hành. Toàn bộ quy trình này phản ánh sự cẩn trọng và chuyên môn hóa cao của cơ quan Trung ương.

4.1. Thủ tục tiếp nhận và thụ lý hồ sơ khiếu nại tranh chấp

Người có yêu cầu giải quyết tranh chấp nộp đơn trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến Bộ TNMT. Hồ sơ phải bao gồm đơn yêu cầu, quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, và các tài liệu, chứng cứ liên quan đến quyền sử dụng đất. Sau khi nhận đơn, bộ phận chức năng sẽ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ. Nếu hồ sơ đầy đủ, vụ việc sẽ được thụ lý và thông báo cho các bên liên quan. Đây là bước khởi đầu quan trọng, quyết định việc vụ việc có được xem xét giải quyết hay không.

4.2. Quá trình thẩm tra xác minh và ban hành quyết định

Đây là giai đoạn cốt lõi của quy trình. Đơn vị được giao nhiệm vụ sẽ tiến hành thu thập, nghiên cứu hồ sơ địa chính, trích lục bản đồ, làm việc với các bên tranh chấp và cơ quan địa phương. Nếu việc hòa giải tranh chấp đất đai không thành, đoàn công tác sẽ hoàn thiện báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định. Bộ trưởng sẽ căn cứ vào báo cáo này và các quy định của pháp luật để ban hành quyết định cuối cùng. Quyết định giải quyết tranh chấp phải nêu rõ căn cứ pháp lý, kết quả xác minh và hướng giải quyết cụ thể cho các bên.

4.3. Thi hành quyết định và cơ chế cưỡng chế thực hiện

Quyết định giải quyết của Bộ trưởng Bộ TNMT có hiệu lực thi hành ngay. Các bên tranh chấp có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành. Trong trường hợp một trong các bên không tự nguyện thi hành, quyết định sẽ được cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Cơ quan có thẩm quyền ở địa phương sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

V. Triển vọng hoàn thiện thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Trong bối cảnh hệ thống pháp luật không ngừng được cải cách, đặc biệt với sự ra đời của Luật Đất đai 2024, việc hoàn thiện cơ chế và thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TNMT là một yêu cầu cấp thiết. Hướng đi trong tương lai cần tập trung vào việc làm rõ hơn mối quan hệ giữa con đường giải quyết hành chính và tố tụng Tòa án. Cần có quy định cụ thể để tránh tình trạng một vụ việc được xử lý song song ở hai hệ thống, gây ra xung đột pháp lý. Đồng thời, cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tham mưu tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, không chỉ về chuyên môn đất đai mà còn về kỹ năng hòa giải, kiến thức pháp luật tố tụng. Việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ đất đai và hồ sơ giải quyết tranh chấp cũng sẽ góp phần minh bạch hóa quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết. Bên cạnh đó, cần xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp để đơn giản hóa nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ, giúp người dân và tổ chức dễ dàng tiếp cận công lý. Việc hoàn thiện pháp luật không chỉ giải quyết các vướng mắc hiện tại mà còn góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, nơi quyền sử dụng đất được bảo vệ một cách hiệu quả.

5.1. Kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai và các văn bản liên quan

Một trong những giải pháp trọng tâm là kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai 2024 và các Nghị định hướng dẫn theo hướng làm rõ bản chất pháp lý của quyết định giải quyết tranh chấp của Bộ trưởng. Cần quy định rõ quyết định này là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng và các bên chỉ có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân đối với quyết định đó theo thủ tục tố tụng hành chính, thay vì có thể lựa chọn song song ngay từ đầu. Điều này sẽ tạo ra một trình tự giải quyết thống nhất và tuần tự.

5.2. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Trung ương và địa phương

Cần xây dựng một quy chế phối hợp chặt chẽ, rõ ràng và có tính bắt buộc giữa Bộ TNMT và UBND các cấp trong quá trình thẩm tra, xác minh. Quy chế này cần quy định rõ trách nhiệm cung cấp hồ sơ, thời hạn phản hồi và cơ chế xử lý khi có sự chậm trễ hoặc bất hợp tác từ phía địa phương. Việc này sẽ đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp đất đai liên tỉnh và các vụ việc phức tạp khác được nhanh chóng và chính xác, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các nhà đầu tư.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của bộ trưởng bộ tài nguyên và môi trường theo pháp luật việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Thực trạng pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và thực tiễn thi hành tại Việt Nam. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và nâng cao hiệu quả thi hành tại Việt Nam.

9 Chương1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA BỘ TRƯỜNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA BỘ TRƯỜNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 1. Lý luận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường 1. Khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường i) Khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai Tranh chấp là những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng giữa các bên trong một quan hệ xác định. Giải quyết tranh chấp là giải quyết, hòa giải những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột đó, khiến các bên tranh chấp không còn bất đồng, mâu thuẫn với nhau nữa.

Đó cũng là mục đích cao nhất của việc giải quyết tranh chấp. Nhưng không phải lúc nào hoạt động giải quyết cũng đạt được kết quả là hóa giải những mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên, bởi khi một bên đạt được lợi ích của mình thì bên kia sẽ ở vào thế bất lợi. Đặc biệt, đối với tranh chấp đất đai liên quan trực tiếp đến tài sản có giá trị lớn, dung hòa được lợi ích giữa các bên có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết không chỉ dựa trên những quy định của pháp luật mà còn đặc biệt chú ý đến phong tục, tập quán ở mỗi địa phương và quá trình sử dụng đất của người dân để giải quyết tranh chấp đất đai hợp tình, hợp lý, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên, khiến các bên tâm phục, khẩu phục và đạt được sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.

10 Theo Từ điển Giải thích Luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động, Tư pháp quốc tế) của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1999: Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại; đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai”[26,tr. Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai được hiểu là một phương thức của con người nhằm tìm ra một giải pháp hợp lý giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất. Bên cạnh các đặc điểm của giải quyết tranh chấp, giải quyết tranh chấp đất đai có một số đặc trưng cơ bản sau: Một là, giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung của quản lý nhà nước về đất đai. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai là cơ quan quản lý đất đai.

Việc giải quyết tranh chấp đất đai căn cứ vào các quy định của pháp luật; vào các chứng cứ, tài liệu, hồ sơ địa chính được lưu giữ tại trụ sở cơ quan quản lý đất đai. Hai là, đất đai là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp và có tầm quan trọng trên nhiều phương diện.Việc quản lý và sử dụng đất trải qua nhiều biến động, xáo trộn qua các thời kỳ lịch sử nên tranh chấp đất đai rất phức tạp. Vì vậy, hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, khuyến khích các tổ chức quần chúng ở cơ sở, người dân tham gia giải quyết tranh chấp đất đai. Trong giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước coi trọng và đề cao các phương thức thương lượng, hòa giải nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn, duy trì ổn định chính trị- xã hội, đảm bảo sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân.

Ba là, tùy từng trường hợp tranh chấp đất đai và chủ thể tham gia mà việc giải quyết tranh chấp đất đai đặt ra những yêu cầu khác nhau; cụ thể: 11 Đối với tranh chấp đất đai giữa các doanh nghiệp, chủ thể đầu tư kinh doanh thì việc giải quyết tranh chấp đất đai phải dứt điểm nhanh chóng không dây dưa kéo dài làm ngưng trệ, đình đốn hoạt động sản xuất gây thiệt hại về lợi ích vật chất cho chủ thể kinh doanh. Đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau thì việc giải quyết tranh chấp đất đai đề cao việc thương lượng, hòa giải; bởi phương thức này phù hợp với đặc điểm, tâm lý, thị hiếu và truyền thống văn hóa truyền thống của người dân (đặc biệt là người dân sinh sống ở khu vực nông thôn, người dân ở vùng sâu, vùng xa). Đối với tranh chấp đất đai giữa đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở khu vực Tây Nguyên thì việc giải quyết tranh chấp đất đai dựa vào các quy ước của luật tục; vai trò của già làng, người có uy tín trong cộng đồng. Do luật tục, người có uy tín trong cộng đồng, già làng chiếm vị trí quan trọng, tác động đến tâm lý, suy nghĩ, tình cảm và hành vi ứng xử của đồng bào dân tộc thiểu số Ê đê, J’rai và Ba na ở Tây Nguyên.

Bốn là, giải quyết tranh chấp đất đai chịu sự chi phối của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Điều này có nghĩa là Nhà nước không thừa nhận và không xem xét giải quyết các tranh chấp về đòi lại đất đã chia chấp cho người khác khi thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi lẽ, các tranh chấp này vi phạm chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Năm là, do cấu trúc xã hội của Việt Nam dựa trên nền văn minh lúa nước; con người Việt Nam coi trọng tình cảm, sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân .Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn căn cứ vào phong tục, tập quán, thị hiếu.

của người sử dụng đất ở các vùng, miền trong cả nước v. 12 ii) Khái niệm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT. Tuy nhiên, các Luật này không đưa ra cách giải thích chính thức khái niệm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT; thậm chí trong các từ điển luật học cũng không đưa ra định nghĩa về khái niệm này. Dựa trên khái niệm về giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và nội dung các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT; chúng ta có thể hiểu khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT như sau: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ TN&MT trong phạm vi, quyền hạn của Bộ trường Bộ TN&MT nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai.

Bên cạnh các đặc điểm chung của giải quyết tranh chấp đất đai, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT còn có một số đặc điểm riêng cơ bản sau đây: Một là,thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT mang tính đơn nhất và duy nhất. Có nghĩa là theo phương thức này, Bộ trưởng Bộ TN&MT là người duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Như vậy, người chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Hai là,thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là phương thức giải quyết cuối cùng và ở mức độ cao nhất trong hệ thống các cơ quan hành chính về giải quyết tranh chấp đất đai.

Việc giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT chủ yếu 13 là xem xét, đánh giá lại và đưa ra phán quyết về những kết quả giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan hành chính cấp dưới mà cụ thể là của UBND cấp huyện và UBND cấp huyện bị đương sự khiếu nại. Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT mang tính chuyên môn rất cao; bởi lẽ, Bộ TN&MT là cơ quan chuyên ngành về quản lý đất đai ở thang bậc cao nhất của hệ thống cơ quan hành chính về quản lý nhà nước đối với đất đai ở nước ta- Nơi tập trung các chuyên gia, chuyên viên có năng lực, trình độ chuyên môn cao, sự hiểu biết pháp luật và là đội ngũ tham mưu, hoạch định chính sách, chiên lược, pháp luật về đất đai. Vì vậy, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là quyết định cuối cùng. Các đương sự có nghĩa vụ phải chấp hành, nếu không thực hiện sẽ bị Nhà nước cưỡng chế.

Ba là, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là hoạt động của cơ quan hành chính. Điều này thể hiện: Đối tượng của giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là các tranh chấp đất đai mang tính chất hành chính đã được cơ quan hành chính nhà nước thụ lý, giải quyết (UBND cấp có thẩm quyền giải quyết). Hay nói cách khác, đối tượng thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT là quyết định hành chính giải quyết tranh chấp đất đai của UBND các cấp bị đương sự khiếu nại do không đồng thuận với quyết định của người đứng đầu UBND cấp huyện, UBND cấp tỉnh. Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ TN&MT tuân theo thủ tục khiếu nại hành chính v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ